QUÊ HƯƠNG

LẦN NỮA

NHỚ VỀ

 

bài của

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas USA)

 

Có một tác giả viết "dẫu đi cuối đất cùng trời, Cũng không quên được những lời vàng son". Những lời vàng son chính là những lời Mẹ ru hời trên chiếc vơng đu đưa vào buổi trưa hè êm ả dưới mái lá đơn sơ, dưới bóng cây râm mát hay bên chái nhà mà Mẹ vừa dỗ con ngủ, vừa ngồi vá lại cái áo, kết lại nút, đơm lại khuy.... Những lời vàng son cũng chính là tâm tư, t́nh cảm thân thiết đậm đà hàng ngày đến rồi đi qua trong ḷng Mẹ, để rồi trong phút giây thinh lặng nhất đă bộc lộ rơ nét bên cạnh con thơ ngày lại qua ngày như một điệp khúc b́nh yên trong cuộc sống. Con đă lớn lên bằng bao nhiêu ước vọng đơn sơ, mộc mạc của Mẹ, nhưng ở đó chứa chan bao nỗi vui buồn, đắng cay, hạnh phúc. Tuổi thơ của mỗi đời người, dù cảnh sống có khác nhau, nhưng tầm nh́n từ thuở khai tâm vẫn không nhiều khác biệt. Tuổi thơ, nh́n ngôi nhà ḿnh ở cảm thấy rộng bao la; nh́n cái sân phía trước, khoảng vườn phía sau, con mương nước chảy, cây cầu bắc ngang con rạch qua nhà hàng xóm, cánh đồng trĩu vàng bông lúa, con trâu ngoạm cỏ trên bờ, đàn vịt rỉa lông dưới ao, bầy gà chạy giỡn bên hiên nhà .., tất cả đều lớn, đều nhiều, lạ lẫm rồi trở nên gần gũi thân yêu. Lớn lên, có dịp đi đây đi đó, tiếp xúc với mọi cảnh quan bên ngoài, càng lúc càng nhiều theo với thời gian và tuổi đời, th́ những cảm nhận xa xưa của thời thơ ấu đă trở nên bé nhỏ, tầm thường. Con rạch trước nhà ngỡ đă to, đă rộng th́ bây giờ nó chỉ là con mương cạn so với những ḍng sông mông mênh sóng nước, sức người chưa thể bơi ngang qua nổi! Cánh đồng phía sau nhà bây giờ quá gần, quá hẹp so với những cánh đồng bạt ngàn miệt Đồng Tháp, An Giang... Nói chung, những cái nh́n cảnh quan thời thơ ấu đă hoàn toàn biến đổi với thực tế khi tuổi đă lớn, được đi nhiều và bước chân dẫm lên mọi nẻo đường đất nước mà một thời làm lính trận chúng ta đă trải qua. Có điều, ấn tượng quê hương thời thơ ấu khó nhạt phai trong một sớm một chiều, cũng như những lời Mẹ ru thuở nằm nôi, dù bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, có dịp, tâm tư của chúng ta sẽ dậy trào với muôn vàn kỷ niệm, dù hôm nay, Mẹ đă già lẫn, hay Mẹ đă vĩnh viễn ĺa xa cơi đời! V́ những cảm nhận đó, dù hôm nay có dịp đi đó đi đây, nhưng trong tâm trí tôi vẫn khó quên được h́nh ảnh quê nhà; nơi đó một địa danh, một di tích, một kỷ niệm dù chỉ một lần thoáng qua trong đời, bất chợt gợi lên như một thiết thân gần gũi, thâm t́nh, tŕu mến. Bạn đọc hăy cảm thông chia sẻ phần nào về những chuyện vụn vặt dưới đây, khi những kỷ niệm quê hương lại một lần nữa nhớ về...

 

THAM TƯỚNG

MỘT GÓC NHỎ QUÊ HƯƠNG

 

Tham Tướng là một chức quan vơ có từ đời chúa Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát, vị Tham Tướng có duyên nợ với vùng đất Cần Thơ chính là Lư Chính hầu Mạc Tử Sanh (có sách chép là Mạc Tử Duyên ?), con quan Đô Đốc trấn Hà Tiên là Mạc Thiên Tích. Ông đă từng sát cánh với cha trong việc khai thác vùng đất Hậu Giang, đặc biệt là Trấn Giang (Cần Thơ).

Năm Nhâm th́n 1772, quân Xiêm tràn sang đánh phá Hà Tiên, Tham Tướng Mạc Tử Sanh đương cự với giặc ngoại xâm nhiều trận quyết liệt, mở đường máu cho cha rút quân về Trấn Giang đóng giữ. Mặt khác, pḥng bố chỉnh đốn binh đội chặt chẽ. Dưới quyền chỉ huy của ông, quân sĩ đă dũng cảm xông pha giết giặc. Mạc Tử Sanh đôn đốc dân chúng tái thiết lại những công tŕnh đổ vỡ, an ủi những gia đ́nh tang tóc.

Năm Ất mùi 1775, chúa Định Vương Nguyễn Phúc Thuần bị nghĩa quân Tây Sơn đánh đuổi phải chạy vào Gia Định, Mạc Thiên Tích đă đem binh sĩ giúp Định Vương, Năm 1777, đại binh Tây Sơn ồ ạt tấn công, đánh mạnh xuống miệt Hậu Giang, chúa Nguyễn Phúc Thuần thua luôn mấy nơi, chạy xuống Cà Mau. Tây Sơn thế mạnh đuổi đến Trấn Giang, Mạc Tử Sanh huy động quân sĩ ngăn chận cả hai mặt: đường sông và đường bộ. Thủy binh, bộ binh của đại binh Tây Sơn quá lẫy lừng, tiến quân như vũ băo, Mạc Tử Sanh bị vây, đương cự không nổi, chết trong trận nơi khoảng rạch nhỏ đổ ra sông Cần Thơ, nhân dân đă đặt tên rạch là rạch Tham Tướng để nhắc nhớ một danh tướng đă đổ máu xương tại nơi đây trong trận chiến với đại quân Tây Sơn.

Suốt một thế kỷ rưỡi nhà Nguyễn trị v́, tên Tham Tướng dành cho con rạch nhỏ, một khu chợ nhóm, một cây cầu tại nội ô thành phố Cần Thơ đă đi vào ư niệm người dân. Thời kháng chiến chống thực dân Pháp, địa danh Tham Tướng một lần nữa đi vào lịch sử chống ngoại xâm của Cần Thơ: Mờ sáng ngày 30-10-1945, quân Pháp dùng hai tàu chiến mang số hiệu A2 và A3 từ hướng Trà Ôn tiến vào thị xă Cần Thơ. Lực lượng kháng chiến đă bám chặt trận tuyến pḥng thủ ở vàm rạch Tham Tướng, lợi dụng địa h́nh tự nhiên như bụi cây, góc nhà để ẩn nấp, dùng cả bàn ghế, giường tủ làm chướng ngại vật. Ngày 2-11-1945, quân Pháp đổ bộ lên Tham Tướng đụng ngay tuyến pḥng ngự của lực lượng kháng chiến Việt Nam, đánh “giáp lá cà" thật ác liệt với giặc, gây cho chúng nỗi kinh hoàng.

Trước năm 1975, ngoài con rạch, cây cầu bắc ngang con rạch, chợ nhóm cũng mang tên Tham Tướng; con đường từ cầu Tham Tướng đi vào Cái Răng được mang tên là Mạc Tử Sanh. Tham Tướng thuộc địa bàn phường Xuân Khánh và một phần phường An Phú, thành phố Cần Thơ, dân cư đông đúc, phồn thịnh. - đây dù không phải là một di tích thắng cảnh lịch sử, nhưng hai chữ Tham Tướng đă quá thân quen với người dân Cần Thơ và với khách ở xa có dịp đến với Cần Thơ.

Ngày nay, do điều kiện phát triển và xây dựng mới của thành phố Cần Thơ, cầu Tham Tướng đă biến mất, con đường Lư Thái Tổ (cũ) qua cầu Tham Tướng, nối dài với đường Mạc Tử Sanh (cũ) đi vào hướng Cái Răng đă mở rộng gấp đôi, cầu Tham Tướng trở thành con đường rộng thênh thang, bên dưới là đường cống thoát nước đen ng̣m, cuốn trôi rác rưới dơ bẩn từ trong các cống rảnh đổ ra sông cái Cần Thơ. Dù không c̣n cầu c̣n rạch thông thương như trước, nhưng hai chữ Tham Tướng vẫn không xa rời trong tim của mỗi cư dân sống tại cần Thơ.

 

Đ̀NH THẦN TÂN AN

 

Sau khi phong sắc thần đ́nh B́nh Thủy (29-11 năm Nhâm tuất 1862), đến năm Tự Đức 29 (Bính tí 1876), vua Tự Đức phong sắc thần đ́nh Tân An tại thị trấn Cần Thơ thuở ấy, nay là thành phố Cần Thơ. Cũng chính năm nầy, thực dân Pháp chính thức thành lập tỉnh Cần Thơ.

Khoảng năm Canh th́n 1880, ngôi đ́nh lần đầu tiên được thiết lập tại Chợ Giữa, cách thị trấn Cần Thơ gần 3 cây số. Đến năm Kỷ hợi 1899, ngôi đ́nh mới dời về gần cầu rạch Tham Tướng, nay thuộc phường Xuân Khánh, xây cất bằng gạch ngói khang trang rộng răi, 8 nóc, trên phần đất do ông Nguyễn Văn Nga hiến tặng. Trước ngày 30-4-75, một số thân hào nhân sĩ ở Cần Thơ họp nhau dự định quyên góp tiền bạc để dời về xây cất đ́nh thần Tân An trên khu vực Băi Cát (gần bến phà Cần Thơ), nhưng chưa thực hiện được, và ước vọng đó măi măi ch́m trong quên lăng bởi biến cố tháng 4/75, nhiều thân hào nhân sĩ lớn tuổi, một số định cư ở nước ngoài, một số c̣n lại th́ lần lượt đă nằm xuống giữa ḷng đất mẹ. Bây giờ nhắc nhớ đ́nh thần Tân An như một kỷ niệm đang ch́m sâu trong kư ức một thời...

Tương truyền rằng, khi dời ngôi đ́nh từ Chợ Giữa ra gần cầu Tham Tướng, linh thần từng hiển hách anh phong, pḥ hộ độ tŕ cư dân được yên lành, phong điều vơ thuận. Lúc c̣n chỗ cũ, đ́nh quay mặt ra mé sông Cần Thơ, gần đ́nh có cây đa to lâu ngày nhánh gie vô đ́nh. Tuy sợ gió mưa ngă nhưng không ai dám đốn, bèn mời ông Nguyễn Văn Nga đến hỏi ư kiến, ông Ộhoạ bùaỢ thế nào mà ngọn đa ngă về hướng khác, khiến ai cũng khâm phục! Người dân Cần Thơ thời trước c̣n chứng kiến nhiều việc linh hiển lạ lùng của thành hoàng bổn cảnh Tân An. Khoảng năm 1944, quân Pháp đang tuột dốc, quân Nhật hoành hành, một hôm chiếc tàu Pháp mang tên Albert Sarraut chạy trên sông Cần Thơ, ngang qua đ́nh thần cũ, bị ch́m, đánh dấu sự thảm hại của thực dân. Năm 1945, quân Pháp sung công ngôi đ́nh, chiếm làm kho dự trữ súng đạn. Qua năm 1946, ngày 16-11 âm lịch, ngôi đ́nh dùng để chứa đạn bỗng nổ tung. Gạch ngói, sắt, đá đều nát thành mảnh vụn. Nhưng kỳ lạ, chỉ có tấm trạng thờ thần sơn son thếp vàng văng ra trên một cây số vẫn c̣n nguyên vẹn... Bao sự tích hiển linh do cư dân truyền tụng và đă trở thành tương truyền cho một ngôi đ́nh đă nhận sắc phong, dù xét về mặt khoa học, nó chưa đủ sức thuyết phục, nhưng đối với quan niệm dân gian, nó đă đi vào ḷng nhiều người, từ nhiều thế hệ qua.

Với ḷng tín ngưỡng về đ́nh thần, những ngày tế lễ tam quan, tứ quư, đáo lệ kỳ yên, sự cúng tế linh đ́nh, trọng thể..., nhiều người họp mặt đông đủ hành lễ thật trang nghiêm trong bộ quốc phục áo dài khăn đóng. Dù hiện tại đ́nh thần Tân An chưa được trùng tu và sửa chữa như đ́nh thần B́nh Thủy, nhưng chúng ta nhắc nhớ ở đây để thấy rằng, trong thành phố Cần Thơ chúng ta, hiện vẫn c̣n một ngôi đ́nh thần cổ, có sắc phong của vua Tự Đức như sau:

"Sắc phong bổn cảnh thành hoàng

Kỷ tính đại vương, khâm mông gia tặng Quản hậu

Chánh trực, hựu thiên đôn nghinh chi thần”

Một di tích của người xưa, một công tŕnh văn hoá nào đă đi vào ḷng cư dân... đều đáng được trân trọng. Đ́nh thần Tân An nếu xét về mặt cấu trúc và điều kiện trùng tu phát triển để trở thành một khu thưởng ngoạn là một điều cần thiết, bởi v́ thắng cảnh của Cần Thơ quá ít so với nhiều tỉnh thành khác. Xây dựng những công tŕnh mới, đánh dấu sự phát triển vươn lên của thành phố hôm nay là điều đáng được quan tâm, nhưng truy t́m những di tích một thời tên tuổi, gắn liền với đời sống cư dân... càng đáng được khuyến khích và quan tâm hơn. Bảo tồn những di tích văn hoá là công việc chung của mỗi người dân Việt, nhưng đừng nên lơi dụng sự sửa chữa, xây dựng các công tŕnh đó để “gậm nhấm, bào ṃn" vật liệu, tiền bạc là điều không thể chấp nhận được, bởi v́ đó chính là tài sản chung của công dân!

 

CHÙA NAM NHĂ

B̀NH THỦY CẦN THƠ

 

Trước mặt là vàm sông B́nh Thủy quanh năm nước xanh trong phẳng lặng. Bên kia sông san sát nhà nhưng vẫn nhô lên nét kiến trúc nghệ thuật cổ kính, uy nghiêm của Đ́nh thần B́nh Thủy - Long Tuyền. Phía sau là khu vườn rợp mát cây trái: dừa, xoài, chuối, sa-pô... Chùa Nam Nhă có mặt vừa tṛn một thế kỷ, vẫn nằm yên, b́nh lặng giữa cảnh trí đơn sơ, cách dốc cầu B́nh Thủy hướng ra vàm chưa đầy hai trăm mét; nơi đây có một chiều dày di tích gắn liền với mạch sống mà người dân Cần Thơ khó thể quên được.

Chùa Nam Nhă c̣n gọi tên Nam Nhă Đường hay chùa Minh Sư, được xây dựng vào đầu thế kỷ 20, do Đức Lăo Thái là Nguyễn Giác Nguyên (tức Nguyễn Phương Thảo) - học tṛ cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, cùng với em là Nguyễn Doăn Cung sáng lập, mục đích làm trụ sở cho phong trào Đông Du ở khu vực đồng bằng. Hai nhà cách mạng Việt Nam thời đó là Cường Để và Phan Bội Châu có nhiều lần về hoạt động tại chùa Nam Nhă.

Bên trong chùa thờ đủ tam giáo, và thờ cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và phu nhân Nguyễn Thị Tồn. Có một đặc điểm là, từ ngoài cửa chánh nh́n vào phía tay trái là chỗ để niệm kinh, có đặt một tấm kiếng soi mặt lớn, khi các thiện nam tín nữ đến niệm kinh đều quỳ trước tấm kiếng nầy. Được biết tấm kiếng có thể cho người quay lưng ra ngoài phát hiện kịp thời kẻ lạ mặt để cảnh giác trong mỗi lần Ộhội kínỢ (?). Để che mắt thực dân Pháp, chùa phổ biến một số sách nói về Phù Đổng, Hai Bà Trưng, Bạch Đằng, Chi Lăng, xen với tác phẩm Hải Ngoại Huyết Thư của cụ Phan Bội Châu. Các liễn đối trong chùa có nội dung rất đặc biệt, vừa dạy đạo vừa dạy đời, mang tính yêu nước và t́nh dân tộc. Ngoài ra chùa c̣n phổ biến loại sách khoa học kỹ thuật, đả phá mê tín dị đoan trong tang lễ, đồng bóng, bói toán.

Chùa Nam Nhă c̣n làm trung tâm hoạt động tài chánh giúp đỡ, bảo trợ cho nhiều học sinh xuất ngoại du học nhằm chống lại chánh sách ngu dân của Pháp. Hạ tuần tháng 5/1913, theo lời khuyên của cụ Phan Bội Châu, cụ Cường Để trở lại chùa Nam Nhă để làm công tác vận động tài chánh và đưa nhiều chiêu bài khởi nghĩa. Giặc Pháp phát hiện, cụ Cường Để chạy thoát nhưng chùa Nam Nhă bị đóng cửa. Lúc đó cụ Nguyễn Giác Nguyên đang được cử làm tỉnh trưởng Cần Thơ nên bị bắt đưa đi giam ở Mỹ Tho. Trong tù cụ vẫn thường xuyên viết thư về chùa hun đúc tinh thần lạc quan, chống thực dân Pháp...

Ngày nay chùa Nam Nhă vẫn thầm lặng và yên ả. Những người chăm sóc vẫn công phu như suốt những chặng thời gian qua. Nhiều đoàn khách có dịp ghé qua, nghe đọc đôi bài thơ vịnh rồi lại âm thầm ra đi. Bạn học cùng lớp với tôi suốt bốn năm bậc trung học đệ nhất cấp trường Phan Thanh Giản, anh Nguyễn Văn Thành vào ở trong chùa làm công quả và ăn cơm chùa đi học hằng ngày trên chiếc xe đạp. Mấy mươi năm chiến tranh và sau cuộc vật đổi sao dời, từ trại tù trở về chạy xe đạp ôm, tôi có dịp chở hàng cho một tín nữ mang đến cho chùa, bất chợt tôi gặp lại anh. Mừng mừng tủi tủi, chúng tôi ôm nhau tưởng như trong giấc mộng. Được biết mấy mươi năm qua anh Thành vẫn sống b́nh lặng và làm công phu trong chùa như ngày nào. Anh đă kể tôi nghe rất nhiều về chùa Nam Nhă, và anh là người suốt quăng đời, từ thanh xuân cho đến nay tóc đă ngă màu bông, vẫn gắn bó với ngôi chùa nhỏ nhoi, hiền hoà bên ḍng sông B́nh Thủy lặng lờ theo sóng nước vô t́nh lớn ṛng chảy qua miền đất quê hương.

Một hôm ngồi uống trà với anh bên góc sảnh đường giữa trưa nắng, bất chợt tôi đưa mắt nh́n ra ngoài. Những dây chuối pháo rực đỏ dọc hàng hiên và trùm cả một góc sau chùa. Nh́n sắc đỏ qua những dây chuối pháo, ḷng ta cảm thấy nao nao. Phải chăng đó là màu của niềm tin vào cuộc sống?

 

BẾN NHỊ KIỀU

TÊN GỌI

C̉N TRONG CƠI NHỚ

 

Buổi chiều đi dọc đường Duy Tân (cũ) sẽ thấy thoải mái vô cùng, bởi cái mát toả ra từ mặt rạch Cái Khế nước đầy, phẳng lặng. Những chiếc ghe chở đầy củi đước đậu một đoạn dài dọc bến đ̣ Ô Môi, khiến bến rạch thêm nhộn nhịp. Mút tận đằng xa, cầu Đôi Mới xôn xao xe cộ qua lại, in bóng xuống ḷng rạch, nhấp nhô, chao lượn. Anh Phạm Đ́nh Q. và Nguyễn Gia N. vừa đi ăn cơm chiều với tôi, cả ba thả bộ trên con đường nầy. Là một nhà nhiếp ảnh, anh Q. say sưa nh́n cảnh trời chiều có những sắc nắng đầy quyến rũ toả trên mặt rạch, nước ngọt trong lành, tỏ vẻ tiếc rẻ v́ không mang theo máy ảnh. Nhà văn N. th́ mơ mộng hơn, anh nói: "Dọc hai bên con rạch nầy, từ cầu Cái Khế đến cầu Đôi Mới, chỉnh trang thành bến và công viên th́ đẹp và lư tưởng biết bao!".

Một người như anh Q., anh N. từ miền Nha Trang cát trắng vào chơi khi nh́n thấy cảnh rạch Cái Khế mà có ao ước được ghi ảnh, được thấy một công viên cũng là điều đơn giản thôi, bởi cái đẹp ở một nơi nào đó của quê hương cũng khiến ḷng người xúc động, mến yêu. Khi về đến nơi tạm nghỉ, chúng tôi bắc ghế ra sân thượng hóng cơn gió mát từ sông Hậu thổi về, bất chợt tôi muốn kể với bạn bè đôi nét về chuyện xưa, chuyện "Công viên và Bến Nhị Kiều"...

Bến Nhị Kiều được mang tên từ năm 1964, khi cầu đôi Cái Khế vừa làm xong. Đó là khoảnh đất dọc theo rạch Cái Khế, từ cầu Xáng Thổi qua ngang cầu Nhị Kiều (cầu Đôi Mới) chạy thẳng vào Đàn Tiên, phía bên lộ Cống Quỳnh (nay là Hoàng Văn Thụ và Huỳnh Thúc Kháng). Một khoảng rộng dành làm công viên, có trồng các loại hoa, cỏ như bến Ninh Kiều, trải thảm xanh trông đẹp mắt. Các lối đi nhỏ len vào thảm cỏ và người đi trên đường nh́n xuống giống như đứng trên đồi cao nh́n xuống cánh đồng xanh màu mạ. Những chiếc băng đá xếp ṿng theo bốn trụ sắt, trên có mái che mát. Những cây điệp vào mùa nắng trổ bông đỏ ối cả một góc, quyến rũ khách đến bến nầy. Dù không đẹp bằng bến Ninh Kiều thời đó nhưng bến Nhị Kiều và công viên Nhị Kiều có phong cảnh êm đềm, thanh tân, dễ khiến ḷng người say đắm. Ban đêm, bến Nhị Kiều đón nhận bước chân nhàn hạ của khách hóng mát sau một ngày làm việc mệt nhọc, hoặc những đôi bạn sánh vai nhau tạm dừng chân bên băng ghế đá tâm sự, chuyện tṛ. Họ cùng nhau đưa mắt nh́n ḍng rạch Cái Khế gợn sóng lăn tăn, hay nh́n lên cầu trông các chuyến xe ngược xuôi qua lại. Những đêm trăng sáng, cảnh trí bến Nhị Kiều càng đằm thắm, d́u dặt, gợi cho ḷng người thanh thản, tươi vui khi hít thở khí trời trong mát của ḍng Cái Khế thoảng lên, xuyên qua các băng ghế đá chập chờn dưới ánh trăng...

Bến Nhị Kiều và công viên Nhị Kiều ra đời và mất đi trong thoáng chốc. Phần th́ bờ đất dọc rạch Cái Khế ngày càng bị xoáy ṃn, triền đất phía vào Đàn Tiên có lần bị sụp lở, không c̣n thuận lợi để xây dựng, chỉnh trang thành bến nghỉ mát hoặc công viên giải trí nữa. Bến Nhị Kiều của ngày nào bây giờ chỉ c̣n ghi lại bằng đôi tấm ảnh của những người làm công tác nhiếp ảnh xa xưa, như anh Trần Văn Bé, Văn Kỉnh, Văn Mười, Hoàng Xuân Sít...

Ngày nay, chỉ c̣n vết tích của mấy cây điệp nơi dốc cầu Nhị Kiều. Năm 1988, một cây điệp già cỗi bên dốc cầu Xáng Thổi đă bị cơn hoả hoạn, chết đi là điều tiếc rẻ cho nhiều người. Tất cả h́nh ảnh công viên Nhị Kiều đă ch́m sâu trong quên lăng suốt những ngày miền Nam bị cưỡng chiếm. Bởi v́ những mái nhà cất lên, đủ loại, đủ kiểu, choán cả bờ rạch, che chắn cả bến sông của phường An Cư, An Nghiệp... Đổi thay như vậy, h́nh ảnh và tên gọi Bến Nhị Kiều bây giờ chỉ c̣n trong cơi nhớ!

Nghe tôi kể chuyện dài ḍng như vậy, anh N. nói như tiếc rẻ và ao ước: "Nếu con đường Hoàng Văn Thụ - tức Duy tân cũ) và cả phía bên kia bờ sông dọc từ cầu Cái Khế đến cầu Đôi Mới, có thể kéo dài vào sâu bên trong, đầu tư chỉnh trang lại thành bến dạo mát cho du khách và người dân thành phố th́ hay biết mấy. Bến dạo mát có băng đá, có hoa kiểng, có trồng cây cảnh toả bóng mát sẽ thanh lịch biết bao! Cần thiết biết bao đối với cư dân thành phố, cũng là điều ưu đăi của thiên nhiên dành cho quê hương Cần Thơ là có con rạch nước ngọt sạch sẽ, trong mát quanh năm. Điều kiện thuận lợi như vậy mà thiếu xây dựng thành công viên xuyên qua ḷng thành phố là điều thật uổng!”...

Tôi cũng nghĩ như anh N. Chuyện lập thành công viên khi tôi c̣n trong nước ngỡ như giấc mơ, bởi phần đông những nhà cửa, quán hàng đều của viên chức chánh quyền phường khóm lập ra, khó mà giải toả...

Tôi đă viết bài thơ gợi lên nỗi ao ước của ḿnh về viễn ảnh một công viên xinh đẹp trên bờ sông Cái Khế.

 

BUỔI CHIỀU ĐI DẠO

Gió từ sông Hậu thổi vào

Mang theo cái mát ngạt ngào t́nh quê

Dưới sông nước đă tràn về

Lao xao con sóng bộn bề âm thanh

 

Buổi chiều đi dạo ṿng quanh

Đường Duy Tân cũ... đă thành niềm vui

Một ngày lao động qua rồi

Nghe hương vị ngọt bồi hồi trong tim.

 

Giữa ḷng thành phố thân quen

Người xe nhộn nhịp... khó t́m thảnh thơi

Nếu không về với quê tôi

Theo sông Cái Khế dạo chơi buổi chiều.

 

Dù chưa như bến Ninh Kiều

đây vẫn có ít nhiều t́nh thân

Bởi thiên nhiên đẹp quanh năm

Đăi người dáng vẻ thâm trầm riêng tư.

 

Buổi chiều trên đất An Cư

Mênh mang gió lộng thổi từ sông xa

Một mai đây lập vườn hoa

Bến Duy Tân sẽ thiết tha t́nh người.

 

Viết tại 117/6c DuyTân

tháng 3/1987

 

Vậy mà, cuối năm 1998 có dịp về lại quê hương, tôi đă thấy được không khí trong lành của ḍng sông Cái Khế, chạy dài từ cầu Cái Khế đến cầu Đôi Mới phía bên lộ xe, thật sự là một công viên, dọc mé sông được kè đá thẳng tắp, sạch sẽ, lan can sắt chạy dài đến mút mắt. Từ mé rạch đến mé lộ xe là khoảng trống tráng xi măng cao ráo, nhiều cây xanh mới trồng, chắc hẳn không bao lâu sẽ lớn và toả bóng mát suốt công viên chạy dài. Hứa hẹn công viên h́nh thành như ước vọng của anh bạn N. năm nào. Có điều, lập thành công viên, việc giữ ǵn và duy tŕ sự trong sạch của công viên, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, c̣n chờ thời gian trả lời, bởi ḷng dân thành phố Cần Thơ quá ngao ngán cho những đổi thay đột biến từng ngày!

 

NHẮC NHỚ ĐÔI NÉT

THẮNG CẢNH MỘT THỜI:

VƯỜN THẦY CẦU

 

Đối với người Cần Thơ hoặc người miệt lục tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long tuổi trên dưới năm mươi có lẽ biết và nghe nói đến tên Vườn Thầy Cầu tại cần Thơ, v́ đây là một thắng cảnh đặc biệt nằm ngay trong ḷng thành phố Cần Thơ từ những năm 1930, mà khách văng lai thường đến xem và dạo chơi thật lư thú.

C̣n nhớ những năm mới vào trường Phan Thanh Giản Cần Thơ lớp Đệ Thất, thứ bảy, chủ nhật chúng tôi thường rủ nhau vào Vườn Thầy Cầu dạo chơi, bởi nơi đây phong cảnh xinh tươi, thoáng mát. Những năm đó, cách đây trên bốn mươi năm, khu Vườn Thầy Cầu xem như ngoại ô Cần Thơ, bởi đường Trần Hưng Đạo, Tự Đức chưa mở. Đường Phan Thanh Giản c̣n mang tên Lộ Mới chạy từ đường Hoà B́nh xuống tới mé rạch Cái Khế. Con lộ cặp rạch Cái Khế đi vào Rạch Ngỗng cũng là con đường đá lởm chởm, vào khỏi Đàn Tiên đến khúc quanh là có lối đi vào Vườn Thầy Cầu.

Đây là khu vườn của ông Đoàn Hữu Cầu, làm luật sư Toà án Cần Thơ. Vào khoảng năm 1930-1931, ông đă sửa sang trồng trọt cây kiểng đẹp như một công viên. Rải rác trong vườn có nhiều tàng cây che bóng mát, bên dưới có băng đá, băng cây cho người ngồi nghỉ chân, ngắm cảnh. Bên phải lối đi có ao trồng sen, thả cá, nước trong leo lẻo, chúng tôi tha hồ ngồi nh́n đủ loại cá lội dưới ao. Dưới ao sen không nhiều, nhưng có đủ dáng cỡ: những chiếc lá to tṛn vươn cao khỏi mặt nước, lung linh soi bóng dưới đáy ao; những chiếc lá non nhô lên mặt nước như đầu cán viết bên cạnh các chiếc lá đang xoè ra trên mặt nước nhấp nhô. Mấy bông sen màu hồng đỏ, búp nở đều trông đẹp mắt. Các gương sen để lộ những chấm đầu hột li ti. Mặt nước cứ gợn sóng lăn tăn bởi bầy cá ḷng tong lúc nào cũng nhô mơm trên mặt nước t́m mồi, hay mấy chú cá rô, cá lóc, cá mè lặn sâu bên dưới thỉnh thoảng trồi lên đớp mồi và hít thở không khí. Một chiếc cầu nhỏ bắc ngang ao, hai bên cầu có lan can bằng cây để khi đứng trên cầu không bị té xuống nước. Một gian nhà mát có thả dây leo quanh năm nở hoa rực rỡ càng tăng thêm cảnh đẹp, hữu t́nh.

Sâu phía trong là tư thất của Thầy cầu. Đây là ngôi nhà xây trên nền đúc cao, cất theo kiểu nhà sàn, có nhiều bậc thềm dẫn lối lên trên ngôi nhà tṛn để nghỉ chân rồi mới vào bên trong. Thuở đó chúng tôi c̣n quá trẻ nên không có dịp vào được bên trong ngôi nhà, do vậy không hiểu được lối bày biện, trang trí bên trong ngôi nhà như thế nào.

Rẽ trái lối đi, có một vuông đất dành để xây ngôi chùa mang tên GIÁC LINH TỰ. Ngôi chùa núp dưới bóng cây đa cành lá sum sê. Chúng tôi cũng thường tụ dưới gốc cây đa nầy những giờ trưa nắng sau khi đùa giỡn quanh vườn thoả thích. Cảnh đẹp của Vườn Thầy Cầu đă nổi tiếng, lời đồn lan xa, khách nhàn du thường vào dạo chơi, ngắm cảnh thật đông vui. Thuở chúng tôi hay lui tới vườn nầy, Thầy Cầu hăy c̣n sống. Chúng tôi thường xuyên gặp được ông lúc tưng tiu chăm sóc cây kiểng hay ném cám, quăng mồi cho cá ăn. Bởi c̣n quá trẻ nên chúng tôi rất sợ tới gần ông, chỉ đứng xa nh́n dáng ông làm việc có tính nhàn hạ, chăm chỉ và thoải mái th́ thích thú và thèm thuồng ước ao sau nầy có được cảnh sống về chiều như ông. Măi đến năm 1960, ngày 27 tháng 2 âm lịch, Thầy Đoàn Hữu Cầu qua đời, thọ 73 tuổi... th́ sau đó khu vườn kém mỹ quan do thiếu bàn tay chăm sóc của ông. Dù vậy, khách ở xa nghe đồn và thích cảnh thanh lịch cũng thường lui tới văn cảnh đă được Thầy Cầu gầy dựng từ trước.

Do t́nh h́nh phát triển, thành phố Cần Thơ ngày càng nới rộng diện tích, lối vào Vườn Thầy Cầu được đoàn Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn Ph.D. 24 (xin lỗi, tôi chỉ nhớ danh hiệu mang máng, v́ có bạn tôi, anh Ngô Minh Lạc làm cán bộ trong đoàn nầy) tráng xi măng sạch sẽ, cũng là lúc nhà cửa chen chúc nhau mọc lên như nấm, chẳng những dọc hai bên bờ rạch Cái Khế mà cả dọc theo đường xi măng dẫn vào Vườn Thầy Cầu nữa. Đó là những năm cao điểm của chiến tranh, dân thôn quê từ bỏ ruộng đồng tản cư ra thành phố sinh sống và tránh đạn bom ngày đêm đe doạ mạng sống. Khi đó th́ cảnh trí Vườn Thầy Cầu bắt đầu đổi khác cho đến ngày nay. Trải qua năm tháng vô t́nh bởi cuộc sống đă lôi cuốn trong ḍng đời nghiệt ngă, tên tuổi Vườn Thầy Cầu chỉ c̣n được nhắc nhau như nói đến một địa danh quen thuộc, như cầu Tham Tướng, ngă ba Cầu Xéo mà người dân Cần Thơ chưa hề thấy được cây cầu nào đă bắc ngang chỗ ngă ba nầy từ khi có sự xuất hiện của Cần Thơ đến nay! Cảnh trí xinh đẹp của một nơi ngắm cảnh nghỉ mát trong ḷng thành phố không c̣n nữa. Bây giờ Vườn Thầy Cầu thuộc đường Huỳnh Thúc Kháng, phường An Nghiệp (cuối chợ Mít Nài).

Lối đi tráng xi măng xinh đẹp ngày trước đă có nhiều chỗ bị sụp lở. Nhà cửa san sát, có nhà xây gạch khang trang... Khó thể h́nh dung được, chính trên những nền nhà nầy, trước đây có cây kiểng xinh tươi, những băng ghế đá, băng ghế cây, những tàn cây cao che bóng mát c̣n in dấu chúng tôi quẩn quanh vui chơi những ngày nghỉ học. Khó thể h́nh dung được, chính trên khoảng diện tích đất đai nầy đă từng đổ biết bao công sức và mồ hôi của một người luật sư già tên tuổi một thời, để gầy dựng nên thắng cảnh cho người đời tới lui thưởng ngoạn, giải trí cho thư giăn tinh thần mà không thu khoản lệ phí nào.

C̣n nhớ, có một buổi trưa chủ nhật vắng vẻ, chúng tôi ḍm trước ngó sau không thấy ai, đă lén quăng sợi dây câu định câu cá dưới ao, dây câu có lưỡi móc mồi sẵn nhưng không có cần bằng trúc... th́ bóng Thầy Cầu từ trong tư thất bước ra. Dáng ông bệ vệ như một quan toà, chưa kịp la rầy th́ chúng tôi hoảng hồn ùa nhau bỏ chạy. Ông đưa tay ngoắc chúng tôi lại gần, buộc ḷng chúng tôi phải riu ríu nghe theo. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống ngay chỗ lúc năy, ông bước lại gần cầm sợi dây câu kéo lên. Mặt chúng tôi đứa nào đứa nấy xanh như tàu lá chuối, c̣n ông th́ chậm răi ôn tồn - một giọng nói đă gây cho tôi một ấn tượng hết sức đẹp mà măi đến bây giờ tôi vẫn không quên:

Các cháu đừng câu cá. Để nó lội mà ngắm cho vui. Các cháu có thể bắt cào cào, châu chấu ném xuống cho nó ăn th́ hay hơn. Đừng dại dột như vậy nữa, ông giận à nghe! Ông thương các cháu lắm. Ngày nghỉ học không có việc ǵ phụ giúp gia đ́nh, cứ vào đây vui chơi nhưng đừng phá hư cây kiểng của ông trồng...

Câu nói đó đă hơn bốn mươi năm qua rồi tôi vẫn c̣n nhớ, cũng như h́nh ảnh Thầy Cầu mặc bộ bà ba trắng, đầu đội bê rê, ngồi bờ ao lúc chiều mát, ném mồi xuống ao rồi nh́n đàn cá tranh ăn, tung tăng chao lượn dưới làn nước trong... vẫn chưa xoá mờ trong tiềm thức tôi. Nhất là h́nh ảnh trông oai vệ, nghiêm khắc nhưng hết sức hoà nhă, thương yêu của lần căn dặn chúng tôi đừng nên câu cá dưới ao, làm sao trong đời tôi có thể quên được?

Bây giờ Vườn Thầy Cầu không c̣n như xưa. Ngồi nhắc lại đôi nét để chúng ta có thể h́nh dung được, đă một thời trong ḷng thành phố Cần Thơ chúng ta có một khu vườn trở thành thắng cảnh thu hút đông đảo người đến tham quan, ngắm cảnh, bởi v́ danh tiếng đồn vang khắp miền lục tỉnh một thời, và ngay trong dân gian ngẫu nhiên đă tạo nên một địa danh không thể xoá mờ, dù hiện tại đă không c̣n nữa.

Danh lam thắng cảnh bất cứ nơi nào, ở đâu cũng thu hút khách văng lai bởi nó lạ lẫm, bởi nó gây sự hấp dẫn đến tính ṭ ṃ của con người. Điều đó chứng tỏ dân tộc Việt Nam rất yêu chuộng nét đẹp ngàn đời của quê hương, mến yêu đất nước. Từng tấc đất ngọn rau, từng vườn cây ao cá... nếu biết trân trọng chăm sóc, sửa sang cũng có thể trở nên một thắng cảnh cho người thưởng ngoạn sau những giờ làm việc mệt nhọc để tạo ra chén cơm manh áo trong cuộc sống vốn dĩ chạy đua theo thời gian.

Thành phố Cần Thơ trong hướng phát triển, nếu có nhiều công tŕnh xây dựng mới như công viên Hoà B́nh, hoặc phục chế, chỉnh trang lại một số di tích văn hoá như mộ cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, mộ cụ Cử nhân Phan Văn Trị, Xóm Bà Đồ, chùa Nam Nhă, đ́nh thần B́nh Thủy, đ́nh thần Tân An, công viên Ninh Kiều, Nhị Kiều... tạo nên cảnh trí xinh đẹp sẽ thu hút rất nhiều khách tham quan.

Vườn Thầy Cầu với địa thế như ngày nay khó mà phục chế lại. Dù sao, nơi đây cũng có một thời trở nên thắng cảnh mà ngày nay có nhiều người vẫn c̣n nhớ - nhất là những người xa quê hương như chúng ta. Bất cứ đường nét nào của quê hương đă ghi vào tâm trí chúng ta th́ một giây phút nào đó nghĩ và nhớ lại, có lẽ nó như một đoạn băng ghi h́nh, tuần tự hiện lên trước mắt chúng ta. Nói đúng hơn, đó chính là quê hương trong trí nhớ của mỗi chúng ta.

 

HOA TẾT AN B̀NH

 

Dưới tiết trời buốt lạnh, anh Tư Thạnh mặc quần đùi, cởi trần, đang cặm cụi vô phân những giỏ tre đan sẵn để trồng những cây bông non xanh mượt. Những cây bông cao chưa đầy một gang tay, mầm non nhú ra mềm mại trông thật dễ thương, ấy là kết quả được chắt chiu của nghệ nhân sau hơn sáu tuần lễ. Anh Tư Thạnh nói, khi gieo hạt hai tuần, cây mọc lên cho vô bầu, bốn tuần sau mới cho vào giỏ. Các giỏ ghép sát nhau để các cành bông con che chắn nhau, các tàn bung ra, tựa vào và cùng vươn cao. Khi cây "xây bằng thang" th́ bẻ ngọn cho cây búng thêm chồi. Lúc đó, các giỏ đựng được tách ra khoảng hai tấc cho cây phát triển tṛn đều. Khoảng ba tuần trước khi đem bán, phải dùng những thanh cây cắm, sửa xung quanh cho giỏ bông được đẹp. Để có được mùa bông tốt, khâu chuẩn bị phân rất công phu. - ấp Thới Nhựt bà con sử dụng phân rơm trộn với tro trấu để đất xốp tơi. Thời gian gieo trồng, lượng nước tưới cho bông cũng đặc biệt quan tâm, làm sao tránh khỏi bị úng nước. Khi mưa lớn phải kịp thời soi lỗ tháo nước. Gặp sâu bướm, thường th́ dùng rễ dây thuốc cá đâm nhuyễn, lược lấy cốt pha nước đổ vào b́nh xịt...

Ấp Thới Nhựt thuộc xă An B́nh, xă ven của thành phố Cần Thơ, chạy theo ngọn rạch Đầu Sấu - Hàng Bàng - Bà Bộ. Bảy mươi phần trăm dân ở đây làm nghề trồng bông. Trung b́nh, nhà ít nhất mỗi mùa cũng trồng được một ngàn giỏ, như nhà chú Tư Bộ, Tư Liễn, Hai Buôi... Lượng bông nầy, hai phần ba được đưa ra bán ở chợ Cần Thơ, chợ Mít Nài, chợ Tham Tướng, dọc bến rạch Cái Khế phường An Cư... Số c̣n lại đưa sang B́nh Thủy, Trà Nóc, Cái Răng, Phong Điền ... gồm nhiều loại bông như Sứ Thái Lan, Hạnh, Đinh Lăng, Lữ Phụng Tiên, Dành Dành, Vạn Thọ, Mồng Gà, Mống Tay, Rau Dừa, Cọt Sa, Hường, Nho, Gấm, Ngọc Nữ, Ớt Kiểng v.v...

Hỏi về nghề trồng bông, một nghệ nhân của An B́nh vui vẻ nói: Làm theo mùa để tăng mức thu nhập gia đ́nh, nhất là vào dịp Tết để có tiền mua sắm áo quần cho vợ con. Bông chưng ngày Tết c̣n mang ư nghĩa cổ truyền của ông cha... Gắn bó với nghề, mỗi khi đi đâu thấy màu bông nở rộ là ḷng phơi phới niềm vui, muốn t́m ṭi, nghiên cứu cách nhân giống hoặc lai tạo giống... riết rồi nó như một cái nghiệp.

Đúng như lời nghệ nhân vừa nói, trồng bông điểm tô cái đẹp ngày Tết đối với người dân An B́nh bây giờ không c̣n là nghề nữa, mà chính là cái nghiệp, bởi v́ niềm say mê, yêu thích tô vẽ cho từng sắc hoa, đ̣i hỏi người trồng bông phải đầu tư công sức và trí tuệ của chính ḿnh, để mỗi lần Tết đến, hoa từng nhà khoe sắc thắm, rạng rỡ niềm vui, chứa chan hạnh phúc. Sắc hoa ngày Tết không phải chỉ đơn thuần đem đến niềm vui đối với mọi nhà... mà c̣n là tấm ḷng của người dân An B́nh đối với quê hương đất nước. Tôi đă viết tặng anh Tư Thạnh bài thơ sau lần ghé tại nhà anh và hỏi chuyện với anh đôi nét về nghề trồng bông Tết, một trong những sinh hoạt mang nét đặc thù của quê hương Cần Thơ, và bài thơ nầy tôi đă tặng anh ngay tại nơi bán bông trên khu Bến Ninh Kiều vào trưa ngày 29 Tết Đinh mùi 1967 (bài thơ tôi viết vào những ngày cận Tết nhưng các đoạn sau là những suy nghĩ của tôi về h́nh ảnh một cái Tết thanh b́nh, yên ả, dù hiện tại đang ở vào cao điểm chiến tranh.

 

VIẾT GIỮA MÙA XUÂN

tặng anh Tư Thạnh

 

HOA TẾT AN B̀NH

 

Đất màu mỡ thêm sức người vun bón

Hoa năm nay khoe sắc thắm đẹp xinh

Giữa rừng hoa Tết nghe xao xuyến

Thương đất quê hương đượm nghĩa t́nh.

 

GÓC CHỢ HÀNG DƯƠNG

 

Người người tất bật lo mua sắm

Vai lấn chen vai chật phố phường

Trưa nắng Cần Thơ đâu toả hết

Niềm thương trong giếng mắt người thương.

 

GIAO THỪA KHAI BÚT

 

Râm ran pháo nổ giữa giao thừa

Mừng đón đầu năm rộn phố khuya

Ngồi viết mấy ḍng thơ khai bút

Mà nghe ḷng rộn nỗi sau xưa.

 

Ư NGHĨ ĐẦU NĂM

 

Sáng nay đường phố người thư thả

Đi giữa rừng hoa thắm sắc màu

Đất nước ngh́n năm đang hiển hiện

Chợt nghe thời khắc chớp qua mau

 

Cần Thơ, Tết Đinh mùi 1967

 

Kể về Hoa Tết An B́nh, tôi chợt nhớ những năm 1956, 1957... ở Sa Đéc, tôi trọ tại nhà cậu Tư tôi để hằng ngày đi học trường Nam Tỉnh Lỵ gần Vạn Mai Viên. Nhà cậu tôi ở xóm Kinh lấp, ngang trường Hoa Kiều, và cạnh nhà D́ Ba - em bà con của mợ Tư tôi, chuyên làm Bông Giấy để bán Tết. Những năm đó, không thấy bông ny lông, nghề trồng bông không thịnh hành, mà phần đông người ta mua bông giả làm bằng giấy để chưng bàn thờ trong ba ngày Tết. Ban đêm và ngày nghỉ học tôi thường sang nhà D́ Ba để phụ làm bông giấy. Các loại bông thường làm là Vạn Thọ, bông Cúc, bông Hồng v.v... Tùy theo loại bông mà sử dụng giấy kẹo màu để cắt. Trường hợp phải cần màu sặc sỡ hơn th́ cắt giấy trắng rồi nhuộm màu trước khi kết thành hoa. Riêng hoa hồng khi cắt cánh xong, phải dùng cọng thép tṛn nhỏ, cuốn từng cánh lại rồi nhấn xuống cho nó nhăn nếp, để khi kết thành hoa sẽ giống như thật. Bông Vạn Thọ th́ có hai loại, vàng tươi và vàng sậm hơi ngả đỏ lợt, giấy cắt tṛn xong th́ xếp lại rồi cắt thành sợi mỏng thật đều, khi kết lại sẽ giống như thật. Tương tự như thế, các loại bông khác cũng qua các giai đoạn: cắt giấy h́nh tṛn hoặc vuông: xếp và cắt theo h́nh cánh hoa rồi nhuộm màu (nếu cần)... Giai đoạn kế tiếp là kết thành từng bông bằng một cọng dây ch́ nhỏ có quấn sẵn giấy màu hoặc xanh lá cây, hoặc màu nâu vỏ cây, đầu có quấn một nhụy vàng cũng bằng giấy cắt nhỏ. Người ta chấm hồ lên lơm giữa từng miếng giấy và quấn tṛn vào cọng dây ch́... cho đến khi thành bông như dự tính. Bông nào kết xong, treo lên sợi dây ch́ mắc chằng chịt trên trần nhà. Khi được nhiều loại bông, người ta mới qua giai đoạn kết lại thành chùm lớn nhỏ tuỳ ư muốn. Lúc nầy mới kết thêm lá vào.

để kết vào bông giấy, chúng tôi đi xuống khu rạch Cái Sơn, nơi đây có trồng nhiều cây bông sứ, chúng tôi hái thật nhiều, về ngâm trong các lu nước lớn chừng cả tháng trời cho thúi rả lớp vỏ lá, c̣n lại xơ bên trong. Lấy bàn chải chà xát rồi rửa sạch, để khô, nhuộm màu xanh lá cây. Mỗi chùm hoa kết vào mấy lá chen lẫn trông thật đẹp mắt. Các chùm hoa nầy bên dưới có các cọng dây ch́ của từng cái hoa quấn chặt lại giống như thân cây, rồi đặt vào chậu. Trường hợp cần chở đi xa th́ chậu để riêng, c̣n các chùm hoa th́ chất khéo vào những cái bội lớn (như cái bội nhốt gà đi đá hay đi bắt kiến vàng).

Chậu hoa làm bằng lon sữa ḅ. Mua lon sữa ḅ về rửa sạch, cắt giấy bông hoặc giấy hồng đơn quấn xung quanh, bên trong bỏ giấy vụn cắt nhỏ nhuộm xanh giống như cọng cỏ. Chùm hoa cắm vào chậu để chưng lên bàn thờ thật đẹp.

Những năm đó, D́ Ba tôi làm thật nhiều và giao mối cho người ta chở đi bán khắp nơi nhân dịp Tết, ngoài việc bày bán ở các chợ trong phạm vi Sa Đéc, c̣n chuyển đi Cần Thơ, Vĩnh Long, Cao Lănh... Hỏi ra mới biết, gia đ́nh D́ Ba đă nhiều năm sống bằng nghề làm bông giấy, ban đầu th́ gia đ́nh chia nhau đi bán các chợ, đến khi được nhiều người thích mua th́ có nhiều người đến mua sỉ... và nhờ vậy, D́ Ba mới nảy ra ư định quy tụ con cháu gom về cùng làm bông giấy bán Tết hằng năm. Thường th́ bắt đầu vào khoảng tháng tám tháng chín âm lịch cho đến đầu tháng Chạp th́ đă có người đến nhận đi bán khắp nơi. Với giá cả và điều kiện sinh hoạt những năm thời đệ nhất cộng hoà, gia đ́nh D́ Ba tôi đủ sống tương đối trong suốt cả năm! Và cũng nhờ mấy năm trọ học ở Sa Đéc mà tôi đă học được nghề làm bông giấy giả, đ̣i hỏi sự cần cù nhẫn nại, đôi khi thức trắng cả đêm để kịp giao cho người đến nhận.

 

ooo

Tôi có duyên may là sinh ra tại một làng quê nghèo khó miệt Trường Long, đi học trường làng thời thơ ấu, chỉ hơn hai năm sang Sa Đéc trọ học, rồi lại trở về quê học trường Phong Điền; thi đậu vào trường Phan Thanh Giản Cần Thơ. Đi lính, khi măn khoá lại về tiểu khu Phong Dinh, đi đóng đồn ở địa phận Phụng Hiệp mấy năm, được biệt phái về Toà Hành Chánh (Ty Nội An - Pḥng NDTV) sau đó tách ra thành Ty Nhân Dân Tự vệ biệt lập của tỉnh cho đến ngày miền Nam bị cộng sản cưỡng chiếm. Chỉ trừ sáu năm nối tiếp đi tù "cải tạo tập trung" hết trại nầy đến trại khác khắp miền đồng bằng, và sau cùng là rừng già Xuyên Mộc. Thả ra lại về quê Cần Thơ sống thêm hơn mười hai năm nữa mới được dịp xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo diện HO. Cái duyên may mà tôi nói, là hầu như suốt cả đời ḿnh, sinh ra, lớn lên đều quanh quẩn ở địa phận Cần Thơ, nên dấu ấn về quê hương đă đậm sâu trong từng sớ thịt ḿnh. Tôi thương mến Cần Thơ, nhớ nhiều về Cần Thơ và... măi khi định cư tại đất nước Hoa Kỳ, khi trang trải ḷng ḿnh qua những trang giấy trắng, mang bút danh như bây giờ, đă phần nào bộc phát từ tấm ḷng của tôi đối với nơi chôn nhau cắt rốn. Xin bạn đọc cảm thông và sẻ chia niềm vui cùng nỗi buồn qua từng trang bài, từng ḍng chữ, dù chân t́nh mộc mạc, có thể vướng vấp nhiều thiếu sót, sai lạc cần sửa chữa, nhưng nghĩ rằng... khả năng cầm bút có giới hạn, xin bạn đọc thứ tha những điều chưa trọn đó.

Tôi xin trân trọng tặng đồng hương Cần Thơ, quư bạn đọc có dịp đến với Cần Thơ và miền đồng bằng lục tỉnh (tập sách mỏng nầy) với ước mong dành chút cảm thông khi đọc những trang chữ chân t́nh của tôi viết về quê hương trong trí nhớ của một con người thật sự sinh ra và lớn lên từ đất Cần Thơ gạo trắng nước trong.

 

LÊ CẦN THƠ

(Trích bài cuối trong tập QUÊ HƯƠNG XA MĂI NGÚT NGÀN,

tác giả tự xuất bản năm 2000 tại Hoa Kỳ)