BẠN CŨ

NGƯỜI XƯA

VÀ QUÊ HƯƠNG

 

A. Huỳnh

CHSPTG (1954 – 1961)

 

Tôi là người may mắn và vinh dự được giáo dục tại trường học và phục vụ ở một quân y viện, hai cơ sở của thành phố Cần Thơ cùng mang danh hiệu của Cụ Phan Thanh Giản.

Bảy năm (1954 – 1961) dưới mái trường thân mến, và 6 năm (1967 – 1973) phục vụ tại quân y viện là khoảng thời gian đẹp nhất trong suốt cuộc đời tôi ở Việt Nam.

Sau 25 năm miệt mài phấn đấu làm lại cuộc đời nơi xứ lạ quê người, giờ đây “tạm dừng bước bôn ba” ngồi nhớ lại bạn cũ và quê hương.

Lớp đệ thất D năm 1954 và anh học sinh Nguyễn Văn Hai

Vào đệ thất trường trung học Phan Thanh Giản năm 1954, tất cả trên 200 nam nữ học sinh, chia ra 4 lớp A, B, C, D. Lớp A toàn nữ sinh, lớp B hỗn hợp nam nữ, lớp C và D toàn là đám “đực rựa” lí lắc.

Tôi vào lớp D với trên 50 bạn khác. Tuổi tác anh em trong lớp rất chênh lệch. Có hai bạn – Anh Vơ Thành Tấn và Nguyễn Văn Mười nghe đâu đă có bà xă.

Người học sinh đặc biệt của lớp đệ thất D năm 1954 và của trường Phan Thanh Giản trong những năm 1954 – 1959 là anh Nguyễn Văn Hai sau này rời trường với biệt danh là Hai Hạng Vơ. Nguyễn Văn Hai thuộc hàng đàng anh của đám trẻ, với đặc tính khôi hài, mỗi lần chế giễu, phá thầy là cả lớp hưởng ứng hết ḿnh và trong ṿng hai năm, học sinh lớp D nổi tiếng là đám ngổ nghịch của trường Phan Thanh Giản. Các thầy cô, như Thầy Cam, Thầy Vinh, Thầy Liêu, Thầy Hiền, cô Mừng v.v.. và một số giám thị đều lắc đầu chịu thua khi có chuyện nhắc đến lớp D. Các thầy có tánh t́nh nóng nảy như thầy La Văn Phát gọi học sinh lớp D là "đám mất dạy”, thầy Châu Phó Tổng Giám Thị gọi bọn này là "đồ cặn bă". Các thầy như thầy Cang dạy toán, cha Yves Choimet dạy pháp văn cho lớp tân đệ nhất cũng không được để yên. Chuyện nghịch ngợm của đám này sau cùng tŕnh lên thầy hiệu trưởng Nguyễn Băng Tuyết và trong hai năm 54-56 thầy hiệu trưởng phạt cấm túc tập thể lớp D ba lần.

Năm 1959, sau khi học hết đệ tam (đệ tam B3) anh Nguyễn Văn Hai gia nhập Vơ Khoa Trừ Bị Thủ Đức, t́nh nguyện vào binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, chiến đấu trên khắp 4 vùng chiến thuật. Rời chiến trường Thiếu Tá Nguyễn Văn Hai lần lượt về phục vụ ở pḥng một Tiểu khu Rạch Giá và bộ tự lệnh Quân đoàn 4 Cân Thơ đến ngày bại trận tan hàng.

Sau thời gian ở tù CS, anh Nguyễn Văn Hai định cư ở Hoa Kỳ, gặp lại chiến hữu bạn bè ở vùng đất tự do California.

Anh Nguyễn Văn Hai được nhớ như người bạn với cá tính khôi hài thân thiện, một học sinh phá phách nhưng không hổn láo, một cầu thủ của đội bóng trường Phan Thanh Giản, một ca kịch sĩ, một đoàn viên tích cực trong các buổi biểu t́nh tuần hành và cứu trợ xă hội của hiệu đoàn Phan Thanh Giản.

Gặp lại sau ngày tàn chiến cuộc

Như tất cả nam công dân của Việt nam Cộng Ḥa, các cựu học sinh Phan Thanh Giản lần lượt gia nhập quân đội, phục vụ trong nhiều binh chủng và trên khắp bốn vùng chiến thuật. Có bạn hy sinh nơi chiến trường, lớp D có Nguyễn Văn Pḥng tử trận ở Cờ đỏ, Nguyễn Văn Thọ hy sinh ở Phong Thuận; lớp lớp C có Mai Minh Bữu, Trung Tá quận trưởng quận Tánh Linh cùng vợ tử thương khi quân đội Cộng Sản tấn công và tràn ngập chi khu. Anh chị mất đi để lại 2 cháu trai nay đă trưởng thành. Thương tiếc cho những bạn vĩnh viễn ra đi, lớp anh em c̣n lại tiếp tục phục vụ trong quân đội để bảo vệ cho lư tưởng tự do đến ngày 30/04/1975.

Bại trận, rả hàng, lần lượt anh em tŕnh diện đi tù CS dưới h́nh thức nhân nghĩa đẹp đẽ “ học tập cải tạo”.

Hầu hết sĩ quan và cán bộ công chức bị giam giữ ở khu an ninh nội chính Cái Khế và khám lớn Cần Thơ. Trong số tù tàn binh nầy, có 3 anh bạn cùng khóa, gặp lại ở Úc Châu: Mai Quang Minh hiện an nghiệp ở Melbourne, Lư Văn Gia hưởng già ở Sydney và Phan Lương Quới trụ tŕ ở Brisbane.

Minh là sĩ quan biệt kích dù, đánh đấm dũng cảm ở vùng Hạ Lào, đường ṃn Hồ Chí Minh và biên giới Việt Miên, nhưng cũng tơi bời lúc mùa hè đỏ lửa 72. Khi đơn vị của Minh đóng ở khu xi-măng Hà Tiên bị địch tấn công tràn ngập; bị bắt làm tù binh. Minh vượt trại tù CS ở Miên, băng rừng về gặp lại cách chiến hữu và gia đ́nh.

Gia là là sĩ quan hành chánh sở 4, v́ thanh liêm nên không mập, vẫn nhỏ con như ngày c̣n là học sinh Phan Thanh Giản.

Quới vào trường Phan Thanh Giản học lớp đệ thất C, tôt nghiệp đại học Dựơc Khoa Saigon, trung tập vào quân y QLVNCH, sau thời gian ngắn ở Nha Trang, Quới về làm việc ở Bộ Tư Lệnh Biệt động quân khu 4. Có lẽ nhờ ăn chay trường nên nay hơn 60 tuổi đầu nhưng “tóc anh vẫn c̣n xanh". Giữa bốn đứa, chúng tôi giữ nhiều kỷ niệm của những ngày trong tù cải tạo.

Hai tháng bị giam giữ ở khu an ninh nội chính là những ngày tháng cực h́nh bị mắng chửi thậm tệ. 400-500 người co rút trong căn trại từng cầm giử 40 tù binh Cộng Sản. Anh em sinh sống như đám cầm thú chen chúc trong các chuồng bẩn thỉu, bày bán ở chợ gà Cần Thơ hay chợ heo cầu Ông Lănh.

Khoảng cuối tháng 6/1975 sĩ quan cấp đại úy được chuyển đến một khu nhà, trước 30/04/1975 là trại gia binh của Trung đoàn 33, sư đoàn 21 bộ binh. Từ trại tập trung mỗi ngày nh́n sang cơ sở của đơn vị cũ, cảm thấy ngậm ngùi cho cảnh cá chậu chim lồng để rồi tôi sống măi trong t́nh thương nỗi nhớ, nhớ thuở chuyên cần phấn đấu những ngày xưa. Thời gian tập trung nơi đây là những ngày nhồi sọ, tẩy năo, kiểm thảo và thú tội. Tội t́nh chi cho những người có ḷng yêu quư dân chủ tự do?

Khoảng tháng 3/1976 được lệnh chuyển trại di làm lao động nơi xa. Di chuyển bằng ghe máy suốt ba ngày đêm đến khu rừng Năm Căn. Hai tháng nơi đây, vùng đất thấp, nước mặn là những ngày lội sông vượt rạch, đào đất đấp nền doanh trại, những ngày lao động khổ nhọc giữa rừng sâu khuân dưới những cơn mưa rừng tầm tả và những đợt tấn công liên tục của đàn muỗi đói Năm Căn.

Vui mừng khi rời Năm Căn, giă từ tiếng sáo thiên thai của dàn nhạc đại ḥa tấu độc đáo “The Great Năm Căn Mosquitoes Symphony Orchestra” nhưng nào ngờ sau mấy ngày đêm lội ruộng băng đồng anh em đến điểm hẹn ở ven rừng U Minh; nơi đây được thân nhân cán bộ, bộ đội địa phương bố trí dàn chào "Tụi bây là đồ phản quốc, bọn khát máu, giết người không gớm tay”.

Có lẽ v́ thời gian trước, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi làm cỏ U minh không sạch nên giờ đây đám tàn quân phải dùng phảng, mác, cù nèo, lưỡi hái để dọn cỏ cày cấy sản xuất lúa thóc nuôi cán bộ cộng sản.

U Minh là h́nh ảnh những người tù binh ốm yếu, già nua, sạm nắng mỗi ngày chèo xuồng, gánh mạ, cấy lúa, khuân thóc, là khoảng thời gian gia đ́nh thân nhân bặt tin, không biết bọn này trôi lạc về phương nào, hay đă vĩnh viễn dưới nắm mồ tập thể.

Gần 2 năm “thụ huấn chương tŕnh học tập cải tạo" đă thúc đẩy tôi cùng hàng triệu đồng bào Việt Nam khác vượt biển t́m lại chân trời tự do.

Minh, Gia, Quới, bọn ḿnh bốn đứa, gặp nhau lại trên vùng đất tự do Úc Đại Lợi là một may mắn trong đời; hăy tưởng nhớ và thương tiếc cho bạn bè như Lưu Phương Bá và vợ con đă tử nạn trong chuyến ra đi.

Thời gian, theo định luật vũ trụ, lặng lẽ trôi qua, nhưng chúng ta có thể ngược ḍng đời để trở lại với những kỷ niệm. Gặp nhau lại cùng các thầy cô và đồng môn để cùng sống lại những ngày của tuổi trẻ phá thầy, trốn học, để cùng nhớ lại những anh lính chiến oai hùng hiên ngang xong pha nơi chiến tuyến; để hát cho những bạn bè đă âm thầm ngă gũc trên đồi Charlie, thun lũng Ashao, hay B́nh Long, An Lộc, Đầm Dơi, Cái Nước; hay để nhớ lại và yêu quư nhiều hơn những bà vợ hiền Việt Nam đảm đang, cần kiệm thăm nuôi chồng bị cầm giữ nơi rừng núi xa xôi.

Một vài kỷ niệm nơi phương trời Việt Nam

Nhắc đến bạn học cùng khóa, không sao quên được những khuôn mặt thân thương như Lương Lân Chương, Trần Tấn Thiệt, Trần Thị Thanh Hà, Trịnh Thị Nga.

Chương ở Cái Răng, Thiệt gần cầu Tham Tướng, tôi ở B́nh Thủy, từ ba khu phố làng quê gặp nhau dưới mái trường Phan Thanh Giản trở nên bộ ba thân thuộc gần gủi. Cậm cụi sách đèn, ba đứa từng đáp những chuyến xe đêm về Saigon theo học các khóa hè Toán, Lư, Hóa, Sinh ngữ, Triết học. Ngoài ra c̣n là bạn đấu bóng bàn, bạn lội sông B́nh Thủy, Cần Thơ, Cái Răng.

Hết trung học, Chương trúng tuyển thủ khoa khoá haú6n luyện Phi Công của Hàng Không Việt Nam, sang Pháp du học, trở về bay cho HKVN. Gặp lại Chương nhiều lần trên các chuyến bay quốc nội, hai đứa vào pḥng lái, chuyện tṛ và cũng là những dịp Chương, Thiệt và tôi hẹn họp mặt ở Saigon.

Vào tháng 2/1975, trong chuyến bay từ Lào về Việt Nam, phi cơ của Chương bị hỏa tiễn Cộng Sản bắn rơi trên không phận Lào. Chương cùng toàn thể phi hành đoàn và hành khách tử nạn mất xác. Mất đi, Chương để lại một vợ và hai con. Vợ con Chương di tản sang Pháp vài ngày trước 30/04.1975 và sau đó định cư ở Hoa Kỳ. Chương là một trong những học sinh xuất sắc của trường Phan Thanh Giản .

Xong tú tài, Thiệt trúng tuyển vào trường Cao đẳng Điện lực Phú Thọ; tốt nghiệp Thủ Khoa; đảm nhận chức vụ Trưởng khu Điện Lực Gia Định, Nhà bè đến 30/04/1975. Thiếu chuyên viên điện lực, Thiệt được chánh quyền CS từ tạm tuyển đến tin dùng và bổ nhiệm vào chức vụ Giám Đốc phân phối điện lực miền Nam, đảm trách khu lănh thổ rộng lớn từ B́nh Thuận đến Cà Mau.

Trong chuyến về thăm lại Việt Nam năm 2001, gặp lại Thiệt sau hơn 25 năm xa cách, mừng cho Thiệt có được tước vị tốt đẹp trong xă hội mới. T́nh bè bạn trên hết, nên chúng tôi vẫn thân mật vui vẻ như ngày c̣n dưới mái trường Phan Thanh Giản. Tôi hỏi Thiệt: "Mày có vào đảng CS không mà nhà nước CS bổ nhậm vào chức vụ Giám Đốc, nói thật cho tao nghe”

Thiệt vội vàng trả lời "Không, nhất định không, có được đề cử nhưng tao một mực từ chối”

Vài lần sau điện thoại thăm Trần Thị Thanh Hà, điều tra thêm về Thiệt, Thanh Hà cho biết gia đ́nh gốc địa chủ không thể kết nhập vào đảng, hơn nữa vào đảng thi đua, phấn đấu liên tục mệt lắm, già rồi.

Vừa xong chuyện đảng viên, Thiệt quay lại hỏi tôi. "Xa quê hương 25 năm, nay trở về thăm quê cũ, bạn bè ngày trước gặp lại những ai, có thăm lại người đẹp nào không".

Tôi dài ḍng trả lời:

"Hôm nay thăm lại viện đại học Saigon, dạo Duy Tân, nh́n lại cây dài bóng mát, mai về Cần Thơ, thăm lại trường cũ sẽ trở lại đường Nguyễn Trăi, Pasteur để nhớ lại khung trời kỷ niệm của những chiều.

Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ

Anh theo ngơ về

Trao vội chùm hoa, môi em mĩm cười

Ḷng anh phơi phới,

Nay trên đường về,

Đi lại đường quen,

Nhặt cách hoa rơi, nhớ người bạn cũ

Về Cần Thơ gặp lại Trịnh Thị Nga, bạn học cùng lớp Đệ Nhất A (1960-1961) trông vẫn như “Hoa Hậu” thuở trước. Gia đ́nh hạnh phúc, thành hôn với anh luật sư Phan Xuân Định; hai trong ba cháu lập gia đ́nh với Việt Kiều và định cư sang hoa Kỳ. Anh Định có vẽ không vừa ư với nền giáo dục và y tế hiện tại, nhưng Trịnh Thị Nga cho tôi biết "Hiện chuyên viên nước ngoài rất được nhà nước trọng dụng, anh Vân có ư trở về xứ sở xây dựng quê hương không?"

Tôi chân thành ghi nhận những ư kiến đóng góp của thân nhân bạn bè, đồng thời mừng cho quê hương đạt được một vài tiến bộ, tuy nhiên những cải tiến nơi quê nhà c̣n quá hạn hẹp, chỉ là những giọt mưa thưa thớt giữa mùa đại hạn, chưa đủ để biến “ sông cạn lại thành ḍng, xuôi về ngọt quê hương".

Dù tôi và các bạn hiện đang sinh sống ở hai xă hội với hai khuynh hướng chính trị tương phản, nhưng tinh thần cao cả phục vụ đồng bào, tác phong đạo đức thanh liêm là hai yếu tố giúp giữ vẹn t́nh bạn giữa chúng ta, những học sinh của nền giáo dục đạo đức. Thành thật chia mừng với các bạn đă thích nghi và an sinh với đồng bào nơi quê nhà. Các bạn vẫn là mùa xuân muôn thuở của đời tôi.

Chiến tranh tương tàn vô nghĩa và gia tài của mẹ.

Từ sau 1950, chiến tranh không c̣n là con đường duy nhất để giành lại độc lập chủ quyền của dân tộc nhược tiểu hay để giải quyết những dị biệt giữa hai ư thức hệ tư bản và cộng sản. Ấn Độ dùng con đường bất bạo động, Singapore, Mă Lai, Thái Lan chọn giải pháp thương thuyết; Hoa Lục và Đài Loan nặng t́nh huynh đệ; Đông Tây Đức, Nam Bắc Hàn với tinh thần tương trợ nên ḥa b́nh đă đến với quê hương họ. Tránh được chiến tranh tàn phá nên các quốc gia nầy đă động viên được toàn bộ nhân vật lực để xây dựng và phát triển xứ sở.

Trong khi đó nơi quê hương ta, đứng trước một chế độ tự do nhưng suy yếu của Miền Nam v́ thiếu những bậc lănh đạo có thực tài, Miền Bắc sử dụng vũ khí đạn dược của Liên Sô, Trung Quốc, xăm chiếm Miền Nam với ư đồ “tiếp tay với đàn anh vĩ đại” bành trướng chủ nghĩa cộng sản và thực hiện chủ thuyết chuyên chính vô sản. Nay Liên Sô đă từ bỏ chủ thuyết cộng sản, Trung Quốc theo con đường Kinh tế Tư bản, chúng ta, dân tộc Việt Nam nghĩ sao về cuộc chiến tương tàn để lại ngày nay một dân tộc nghèo khổ, một xă hội chậm tiến? Chương tŕnh học tập cải tạo chia rẻ thêm t́nh dân tộc vốn đă sứt mẻ, mười ba năm (1975-1988) theo chánh sách chuyên chính vô sản làm dân thêm nghèo đói xă hội thêm thoái hóa. Chánh sách "đổi mới” vừa đem lại chút sinh khí cho đồng bào th́ nghe đâu xuất hiện nạn bè phái tham nhũng. Tham nhũng thối nát đă làm sụp đổ xă hội Miền Nam, và nếu tệ trạng nầy là chứng bệnh trầm kha của dân tộc, th́ vĩnh viễn Việt Nam sẽ là một quốc gia chậm tiến.

Hăy kiểm điểm, thống kê mọi b́nh diện của xứ sở trong 29 năm qua, kể từ ngày chấm dứt chiến tranh và so sánh với những công tŕnh và thành tích của các quốc gia láng giềng (Singapore, Đại Hàn, Đài Loan) đă đạt được để cùng nhau đánh giá khả năng của giới chức lănh đạo và mức tiến bộ của xứ sở, để từ đó chúng ta hoặc hănh diện, tự măn hay đau buồn cho dân tộc của ḿnh.

Việt Nam vẫn măi măi là quê hương thân yêu của tôi, của hàng triệu người Việt Nam sống tha hương trên khắp vùng trời thế giới. Ước mong quê nhà sớm có được một chế độ của mọi công dân, không phân biệt giai cấp, màu sắc chánh trị, một nền giáo dục đạo đức để đào tạo cho xă hội những cán bộ thanh liêm, chuyên cần và một môi trường thuận lợi thu hút được thành phần chuyên viên lỗi lạc góp phần tái thiết, xây dựng và phát triển xứ sở để quê hương giàu mạnh và Việt Nam có được một chổ đứng tốt đẹp trong thế giới văn minh hiện đại.

Sydney mùa hè 2004