Chiếc nón của Thầy tôi
Huỳnh Ngọc Minh
Tôi
được tuyển vào lớp đệ thất trường
Trung học Phan Thanh Giản năm 1953 trong số 200 thí sinh trúng tuyển. Chúng tôi
được nhà trường chia làm bốn lớp đệ
thất theo mẫu tự A, B, C, D.
Lớp A dành cho
nữ sinh. Tôi được xếp vào lớp D.
Tôi
nghe các bạn cùng lớp đồn đăi rằng
lớp D là lớp dành cho các học sinh dỡ. Điều
đó, không biết đúng hay không, nhưng có một
điều sau nầy tôi biết rất rơ là lớp đệ
thất D là lớp nghịch ngợm, chọc bạn, phá
thầy nhiều nhất, so với các lớp kia. Chúng tôi
đă thực hành câu:
“Thứ
ba là học tṛ, sau quỷ và ma”.
Niên
học đầu tiên 1953 – 1954 trôi qua thật b́nh thường,
không có ǵ đáng nói. V́ chúng tôi là một lũ nhóc
từ 11 đến 13 tuổi đời, gặp thầy cô
th́ hồn phi phách tán, chỉ lo chăm chỉ học hành
và nh́n thầy cô với con mắt khâm phục và kính
trọng. Do đó chẳng có kỷ niệm ǵ nhiều,
ngoài một viêc là rất hảnh diện là học sinh
trung học Phan Thanh Giản và ḷng tràn đầy khâm
phục khi nh́n các anh, chị lớn ở các lớp trên
trong trường.
Bước
sang năm thứ nh́, chúng tôi rất phấn khởi v́
được lên lớp Đệ lục D. Lúc bấy
giờ, lớp tôi có nhiều bạn học bắt đầu
đă lớn, biết tinh nghịch, phá thầy, chọc
bạn.
Tôi
c̣n nhớ trong niên học nầy, các thầy dạy tôi
gồm có: ông Dương Du Cam dạy Việt Văn, ông
Cao Văn Tư dạy Pháp Văn, ông Nguyễn Văn Quư
dạy anh Văn, ông Phan Hương Hiền dạy Vạn
Vật. Sau đó ông Xướng dạy anh Văn, ông Linh,
ông Lê Bạc Sang dạy Toán, ông Phạm Kim Liêu dạy
sử địa, ông Cường dạy hội họa, ông
LươngVinh Sanh dạy nhạc và c̣n nhiều thầy cô
nữa mà tôi không nhớ hết.
Các
Thầy Giám Thị gồm có thầy Tài, thầy Châu,
thầy Ḥa, thầy Phát v.v… Hiệu Trưởng lúc
bấy giờ là ông Nguyễn Băng Tuyết.
Mỗi
thầy mỗi vẽ, nhưng tựu trung từ ông
Hiệu Trưởng đến các thầy cô, tất
cả đều rất nghiêm khắc, đạo mạo.
Tuy nghiêm khắc, nhưng lúc nào quư thầy cũng giơ
cao mà đánh khẻ. Quư thầy cô chỉ mong dạy
dỗ cho chúng tôi trở nên người hữu dụng
cho xă hội. Sau nầy khi trưởng thành, chúng tôi
mới hiểu và biết ơn sâu xa đối với quư
thầy cô ḿnh.
Trong
trường c̣n có một người rất có quyền
uy với chúng tôi: đó là chú Tám Rộng. Ngoài công
việc tùy phái, giao công văn, chú Tám c̣n trông coi việc
mở và đóng của trường. Hôm nào đi trễ
th́ bọn học tṛ chúng tôi phải một phen hết
hồn, v́ chú Tám Rộng đóng cửa nên chúng tôi không
vào học được. Sau đó chú Tám dẫn bọn
học tṛ đi trễ vào thẳng pḥng tổng giám
thị để bị cảnh cáo hay phạt consigne.
Những hôm học tṛ ra về không ngay hàng thẳng
lối th́ chú Tám Rộng đóng của Trường cho
đến khi nào học tṛ tái lập trật tự “ th́
mới mở cổng cho ra về. Nhưng bọn học tṛ
chúng tôi tinh nghịch cũng chẳng vừa ǵ. Một hôm
thừa lúc chú Tám Rộng thờ ơ, chúng tôi ùn ùn tràn
ngập chen nhau xô lẩn ra khơi cổng trường
(vừa đi bộ, vừa đi xe đạp lẫn
lận) một cách vô trật tự trước
sự ngơ ngác của chú Tám Rộng. Nhưng hôm sau, th́
các thầy Giám Thị đă đứng sẵn tại
cổng ra vào (do báo cáo của chú Tám Rộng) sẵn sàng
trừng phạt tṛ nào làm mất trật tự.
Một
vị thầy mà tôi c̣n nhớ măi là thầy Dương
Du Cam. Thầy là một nhà giáo luôn tận tụy, thương
yêu học tṛ. Thầy Cam dạy Việt Văn cho chúng tôi.
Thầy có thân h́nh mập và lùn. Thầy thường
mặc bộ đồ complet xám, lúc nào đến trường
cũng đội một cái nón đen với vành tṛn
giống như cái nón đen với vành tṛn giống như
cái nón của tài tử Charlot.
Một điểm đặc biệt nữa là thầy tôi
phải dùng tới hai sợi dây nịt, nối nhau
mới vừa cỡ cái bụng thầy! Thầy đi
đứng chậm chạp và trông buồn cười. Nh́n
thầy đi từ xa, bọn học tṛ chúng tôi không
thể nhịn cười được.
Mà nếu không nhịn cười được th́
phải mang cái tôi vô lễ. Cho nên chúng tôi cố gắng
không dám cười. Viết tới đây, tôi muốn nói
lên lời tạ tội cùng thầy tôi. Kính thưa
thầy, giờ đây chúng con cúi đầu tạ
tội cùng vong linh thầy v́ vô t́nh mà đă vô lễ
với thầy.
Trước
khi giảng bài mới, thầy thường kiểm soát bài
cũ và bảo chúng tôi tŕnh quyển sổ Carnet nhỏ
(sổ cá nhân) mà thầy gọi là sổ “Tu Thân”.
Mỗi ngày, chúng tôi phải ghi vào sổ nầy: 3 điều
tốt, và 3 điều xấu. Sau khi xét sổ “Tu Thân”
xong, thấy có tṛ nào ghi điều xấu là chọc phá
thầy và bạn, Thầy nghiêm sắc mặt răn
dạy anh ấy và mỉm một nụ cười tha
thứ.
Dạy
ở lớp nào, thầy cũng như cho học sinh
học luật thơ “thất ngôn bát cú”, bắt đầu
bằng câu “bằng trắc”. Khi thầy hỏi lậut
thơ nầy, th́ học tṛ phải biết trả
lời là:
Bằng
bằng trắc trắc bằng bằng trắc
Trắc trắc bằng bằng
trắc trắc bằng.
Một
hôm nọ, thầy vào lớp Đệ lục A. Sau khi ra
lịnh cho các nữ sinh ngồi xuống, thầy liền
gọi một tṛ gái đứng dậy và hỏi:
“ốc ṣ”. Cô học tṛ nầy chưa chuẩn bị
tinh thần, không biết thầy hỏi điều ǵ nên
ú ớ, không trả lời được. Thầy
tức giận và nói: Hễ thầy hỏi “ốc ṣ”
th́ tṛ phải trả lời: “ốc ốc ṣ ṣ ốc
ốc ṣ”. Cả lớp cười ầm lên, làm cho cô
học tṛ nầy sượng sùng mắc cỡ. Thầy
thấy lớp học ồn quá, dọa phạt consigne, nên
cả lớp trở lại yên lặng.
Trở
lại lớp của chúng tôi, thầy cũng dạy cách
làm thơ, thất ngôn bát cú nầy. Bên cạnh trường
là thành lính tập, lúc đó 12 giờ trưa, kèn
thổi ṭ te ṭ te để lính về trại gia binh
nghỉ trưa. Nghe tiếng kèn, thầy tôi tức
cảnh làm một câu thơ, để cho chúng tôi
thực hành cách làm thơ và họa lại câu của
thầy. Thầy làm câu thơ như sau.
“Lảnh
lót kèn vang dưới mái trường".
Thầy
hỏi, tṛ nào họa lại đượccâu thơ
nầy, thầy cho 20 điểm.
Trong
lớp có anh Nguyễn Văn Của
là người học tṛ nổi tiếng là phá
thầy chọc bạn, mà mọi người đều
biết mặt, kể cả thầy cô. Anh là một
học sinh “Ba Gai” nhất lớp.
Trong
khi chúng tôi yên lặng, nặn đàu, bóp trán để t́m
câu hoạ lại, th́ anh Của không cần suy nghĩ,
đưa tay ngay lập tức để xin họa.
Thầy khen tṛ Của giỏi và bảo anh họa thử.
Anh liền đọc ngay:
“Cái
nón thầy tôi giống bánh ḅ”
Cả
lớp không nhịn được, cười ầm lên,
đánh tan cái không khí yên lặng, oi bức của
buổi trưa hè. Thầy không ngăn được cơn
tức giận bèn kêu anh DươngVăn Lựng, trưởng
lớp lớp tôi, xuống pḥng tổng giám thị
lấy sổ consigne lên để thầy phạt anh
Của 2 consignes. Có nghĩa là anh Của phải vào trường
trong 2 chúa nhựt tiếp sau đó, để chép bài
phạt. Đi vào trường học ngày chủ nhật là
một cực h́nh, rất xấu hổ. Sau khi phạt tṛ
Của, cơn giận của thầy vẫn chưa nguôi nên
thầy phạt cả lớp chúng tôi về trể hơn
các lớp khác 15 phút. Nghe
nói sau đó, anh Của có đến nhà thầy ở
đường Hàng Bă Đậu để tạ tội và
được thầy tha thứ, xóa bỏ tên trong sổ
consigne.
Thời
gian thấm thoát trôi nhanh, chúng tôi bấy giờ đă lên
lớp Đệ Tứ D. Các thầy dạy chúng tôi bấy
giờ gồm có thầy Phan Văn Kha dạy Việt Văn,
thầy Kha rất nho nhả, đẹp trai, thầy Vũ
Đ́nh Triều dạy hóa học, thầy Bùi Bằng Hăn
dạy Vật Lư, thầy Bùi Khương dạy Anh văn,
cô Đán dạy Vạn Vật, thầy Lịnh dạy Toán.
Học
sinh lớp chúng tôi, đa số là con nhà nghèo, ăn
mặc áo trắng, quần tây, chân mang guốc hoặc
mang giầy sandales. Cũng có các anh mặc đồ bà ba,
đi guốc đến trường. Một số
rất ít bạn học, con nhà khá giả,
mặc âu
phục và mang giầy Bec Canard (giầy mỏ vịt). Giày
Bec Carnard là loại giày hợp thời trang lúc bấy
giờ. Dưới đế giày nầy, có đóng móng
sắt đi trên nền gạch, tiếng kêu nghe “cộp
cộp”. Phần đông các thầy của chúng tôi mang
giầy nầy. V́ vậy khi nghe tiếng “cộp
cộp” sau lưng, chúng tôi biết ngay là thầy ḿnh
sắp di ngang qua, nên tự
động tránh ra hai bên để nhường bước
cho thầy.
Một
hôm, chúng tôi đang chơi giỡn ngoài hành lang, bổng
nghe tiếng giày Bec Canard “cộp cộp” sau lưng ḿnh.
Không ai bảo ai, chúng tôi tránh ra hai bên hành lang để
nhường bước cho thầy đi ngang. Sau khi
những tiếng “cộp cộp” đă xa dần, chúng
tôi mới dám nh́n lén xem thầy nào đă đi qua.
Ngạc nhiên thay, chẳng thấy bóng dáng thầy nào mà
đó là tiếng giày của anh bạn cùng lớp tên là
D (xin giấu tên), đi từ sau lưng tới. Chúng tôi
rất tức giận v́ anh D đă làm cho chúng tôi hết
hồn, v́ tưởng thầy ḿnh đi qua. Anh D bị
xỉ vả và bị trêu chọc của cả lớp. Nhưng
sự việc nầy không dừng lại ở đây. Chúng
tôi trở vào lớp học với giờ Pháp Văn
của thầy Cao Văn Tư. Thầy mở sổ điểm
để gọi trả bài récitation mà thầy bảo
phải học thuộc ḷng từ tuần trước.
Bất ngờ thầy gọi đúng tên anh D lên trả bài.
Chúng tôi nôn nóng chờ đợi tiếng giầy Bec
Canard “cộp cộp” của anh D từ cuối lớp,
và cũng chờ phản ứng của thầy. Không như
dự đoán, anh D bước đi nhẹ nhàng, không nghe
một tiếng động nào vang trong lớp học
cả. Chúng tôi liếc nh́n dưới chân anh D th́
thấy anh ấy chỉ mang đôi vớ mà thôi. Anh đă
cởi bỏ đôi giày Bec Canard để lại ở
cuối lớp tự lúc nào, v́ anh quá sợ thầy và không
thuộc bài.
Bây
giờ đă 47 năm rồi, nhắc lại 2 kỷ
niệm trên, chắc các bạn trong lớp D của chúng tôi
không bạn nào mà không nhớ. Mỗi khi nhắc lại
những kỷ niệm nầy, chúng tôi cảm thấy
tiếc nuối thời vàng son của tuổi học tṛ mà
nay không c̣n t́m thấy được nữa.
Viết
tại Dallas – Texas ngày 04 – 02 – 2004
(Bài của tác giả c̣n phần hai
- cảm nghĩ về ngôi trường sau 75 và thời
cuộc, không dính dáng đến “chiếc nón của
thầy tôi” nên BBT dành lại để lại để
đăng vào Đặc San sau với tựa đề khác).