Thử Đi T́m Nguyên Nhân

Cụ Phan Thanh Giản

Bị Người  cộng sản Cực Đoan kết Tội

Trần Đông Phong

 

BBT: Trần Đông Phong là bút hiệu của một cựu giáo sư Anh văn từng dạy ở Bến Tre và Cần Thơ cuối thập niên 1950. Trước 1975, ngoài việc đi dạy học, ông c̣n là sĩ quan trong QLVNCH, làm báo và chuyên viên về bang giao  quốc tế. Là người miền Bắc nhưng thích nghiên cứu về phong tục, tập quán của xă hội miền Nam nên trong thời dạy học ông thường đi sâu vào các vùng thôn quê ở Kiến Ḥa, Mỹ Tho, Cần Thơ… để t́m hiểu. Nhờ đó ông có được giao t́nh với một số thân hào, nhân sĩ địa phương. Những bài nghiên cứu về lịch sử, chính trị, văn hóa xă hội của ông thường xuất hiện trên các báo vùng Orange County, miền Nam California, là nơi ông đang cư ngụ. Ông đang trong giai đoạn hoàn tất tác phẩm về một nhân vật điển h́nh của miền Nam Việt Nam cùng những biến động lịch sử, chính trị, văn hóa xă hội từ năm 1945 đến 1975. Tập biên khảo này có thể sẽ được xuạát bản trong năm 2004.

N

gay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều người ở miền Nam Việt Nam đều ngạc nhiên khi thấy một trong những người đầu tiên ở miền Nam đă bị những người Cộng sản chiến thắng đánh phá một cách vô cùng hăng say, một cách vô cùng không thương tiếc, lại không phải là những người đă từng lănh đạo quốc gia Việt Nam Cộng Ḥa chống lại Cộng sản Hà Nội như Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hay Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà là một nhân vật miền Nam đă tạ thế hơn một thế kỷ trước, đó là Cụ Phan Thanh Giản.

 Ngay vào đầu tháng 5 năm 1975, tất cả những con đường mang tên Cụ Phan Thanh Giản ở trên khắp 55 đô,ï tỉnh và thị xă ở Miền Nam Việt Nam đều bị chính quyền Cộng sản hủy bỏ và thay thế bằng những tên mới. Ngôi trường trung học lớn nhất ở miền Tây đă được mang tên cụ Phan Thanh Giản từ trước năm 1945 cũng bị đổi tên ngay lập tức và thay thế bằng tên của một cán bộ Cộng sản mà đa số mọi người dân khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh không hề được biết, ngôi tượng của Cụ Phan Thanh Giản được nhân dân Cần Thơ và học sinh trường Trung Học Phan Thanh Giản dựng lên vào đầu thập niên 1970 tại sân cờ của trường này cũng bị cán bộ Cộng sản đập phá tan tành ngay vào những ngày đầu họ mới tiếp thu thành phố Cần Thơ.

Cụ Phan Thanh Giản đă có tội ǵ mà lại bị những người Cộng sản chỉ đáng tuổi cháu chắt của Cụ hận thù đến như vậy?

Trong bài này người viết không có tham vọng cũng như là không có đủ khả năng để t́m hiểu nguyên nhân rơ rệt tại sao những người Cộng sản lại kết tội cụ Phan Thanh Giản, tuy nhiên người viết cũng cố gắng t́m kiếm một số tài liệu để t́m hiểu thêm về những sự kiện có liên hệ đến quyết định này.

Trần Huy Liệu và “Bài Kết Luận” Trong Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử

Theo Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ Tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, giáo sư Sử Học thuộc trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, th́ Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 55 xuất bản tại Hà Nội vào tháng 10 năm 1963 đă “công bố bài kết luận của Giáo sư Trần Huy Liệu dưới tiêu đề: “Chúng Ta Đă Nhất Trí Về Việc Nhận Định Phan Thanh Giản.” Quan điểm chung của bài kết luận là lên án Phan Thanh Giản: “Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghiă, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc, cuả nhân dân,” là phạm tội “dâng thành hiến đất cho giặc” và từ đó phủ nhận tất cả “tứ đức” của ông như “đức tính liêm khiết,” “ḷng yêu nước,” “thương dân”…v́ công đức đă bại hoại th́ tư đức c̣n có ǵ đáng kể.”

Theo Tiến sĩ Phan Thị Minh Lễâ, người viết nghe nói bà cũng là hậu duệ của Cụ Phan Thanh Giản, th́ “vào năm 1963, chính phủ Hà Nội mở một chiến dịch tuyên truyền nhằm chống lại chính phủ Sài G̣n và “Đế quốc Mỹ” với khẩu hiệu sau đây: “Đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn diện, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ.”

“Tất cả mọi phương tiện đều có lợi cho việc đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền này. Dường như  giáo sư Trần Huy Liệu, một vị giáo sư đại học nổi tiếng và là một nhà sử học nghiêm chỉnh đă không ngần ngại dùng nhân vật Phan Thanh Giản để bôi xấu cái thái độ khuất phục trước sức mạnh của người ngoại quốc. Vào năm 1867, đó là người Pháp và vào năm 1963 th́ lại là người Mỹ…”

Cũng theo Tiến sĩ Phan Thị Minh Lễâ th́ tuy Trần Huy Liệu nói rằng  “chúng ta nhất trí về việc nhận định Phan Thanh Giản” nhưng cũng trong tạp chí Nghiên cứu Lịch Sử số 55 này, Trần Huy Liệu đă thú nhận rằng “trong cuộc thảo luận này, chúng ta đă gần như “giật ḿnh v́ nổi giận” (choqué) v́ lập trường của hai đồng chí Chương Thâu và Đặng Huy Vân, lập trường không ai mong đợi v́ hai đồng chí này vẫn chưa bỏ được cảm t́nh của họ dành cho Phan Thanh Giản, do đó họ đă trở thành đối tượng của sự phản đối và đă gây ra một loạt chỉ trích…”

Giáo sư Văn Tạo, cựu Giám đốc Viện Sử Học Hà Nội đă cho biết rằng “vào những năm 1962-1963, trong cuộc thảo luận trên Tạp chí Nghiên Cứu Lịch sử và trong hội thảo khoa học ở Viện Sử Học, có nhiều ư kiến khác nhau. Thậm chí sau lời tổng kết hội thảo của Giáo sư Trần Huy Liệu, nguyên Viện Trưởng Viện Sử Học, với đầu đề “Chúng Ta Nhất Trí về Việc Nhận Định về Phan Thanh Giản” th́ ngay sau đó, Giáo sư Ca Văn Thỉnh, nguyên Giám Đốc Thư Viện Khoa Học Xội,  cũng đă nói lên t́nh cảm chân thành của ḿnh: “Về mặt khoa học, các đồng chí nhận định như vậy là có lư, nhưng về mặt t́nh cảm, trí thức, Lục Tỉnh chúng tôi vẫn có nhiều băn khoăn, thấy không muốn hạ thấp Phan Thanh Giản xuống đến như thế…”

Như vậy th́ việc kết án cụ Phan Thanh Giản không có “nhất trí” như Trần Huy Liệu viết v́ ngoài  Giáo sư Ca Văn Thỉnh, hai ông Chương Thâu và Đặng Huy Vân, cũng là đảng viên Cộng Sản v́ Trần Huy Liệu gọi là “đồng chí,” đă có viết một bài nhan đề  “Phan Thanh Giản trong Lịch sử Cận đại Việt Nam” đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 48 vào tháng 3 năm 1963 trong đó hai nhân vật này c̣n bênh vực cho cụ Phan Thanh Giản.

Người viết không có cơ hội được đọc bài này của hai ông Chương Thâu và Đặng Huy Vân cũng như là bài của Trần Huy Liệu, tuy nhiên nhưng theo nhiều nguồn tin từ miền Bắc th́ đại khái trong Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử số tháng 10 năm 1963, Trần Huy Liệu đă quy trách nhiệm cho Cụ Phan Thanh Giản trong việc kư hoà ước năm Nhâm Tuất 1862 nhượng 3 tỉnh miền Đông cho người Pháp rồi sau đó lại để cho mất 3 tỉnh miền Tây vào năm 1867 và kết tội cụ Phan Thanh Giản đă “dâng thành hiến đất cho giặc, phản lại quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân…” Đối với người Cộng sản, một khi bị kết tội là “phản bội quyền lợi tối cao của dân tộc, của nhân dân” th́ đó là tội “phản quốc” và một người mang tội như vậy th́ không xứng đáng được xem như là một vị anh hùng dân tộc đáng được tôn thờ như tại miền Nam hồi đó.

Trần Huy Liệu là người như thế nào mà bài kết tội cụ Phan Thanh Giản của ông vào năm 1963 lại có ảnh hưởng tại miền Nam 12 năm sau đó?

Trần Huy Liệu là một nhân vật rất nổi tiếng và có nhiều uy quyền ở miền Bắc, nhất là trong lănh vực văn hóa cho đến khi ông chết vào năm 1969.

Năm 1924, Trần Huy Liệu đă từ Hà Nội vào Nam Kỳ để cộng tác với nhiều tờ báo ở Sài G̣n như “Nông Cổ Mín Đàm,” “Ng̣i Bút Sắt,” làm chủ bút các tờ “Đông Pháp Thời báo,” “Pháp Việt Nhất Gia” v.v. Ông có tham gia phong trào đ̣i hỏi người Pháp phải phóng thích Cụ Phan Bội Châu, phong trào truy điệu Cụ Phan Chu Trinh và bị Pháp bắt vào năm 1927. Sau khi ra khỏi tù, ông gia nhập Việt Nam Quốc Dân Đảng vào năm 1928 rồi lại bị người Pháp bắt vào năm 1929 và đày ra Côn Đảo cho đến năm 1935. Trong thời gian bị tù ở Côn Đảo, ông chịu ảnh hưởng của các tù nhân Cộng sản, do đó, sau khi dược phóng thích vào năm 1935, ông về hoạt động tại Hà Nội và chính thức gia nhập đảng Cộng sản Đông Dương vào năm 1936. Trong thời gian này, ông chủ trương những tờ báo thân Cộng sản như Đời Mới, Thời Báo, Tin Tức, Đời Nay rồi lại bị Pháp bắt vào năm 1939, sau đó bị đày lên Sơn La. Tại nhà tù này, thực dân Pháp cũng đang giam giữ nhiều đảng viên Cộng sản khác trong đó có những người sau này nổi tiếng như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ v.v. Tháng 3 năm 1945, nhân cơ hội người Nhật đảo chính người Pháp, ông vượt ngục rồi về chiến khu Tân Trào. Trong “Quốc Dân Đại Hội” họp tại Tân Trào ngày 8 tháng 7 năm 1945, Trần Huy Liệu được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải phóng, chỉ đứng sau Hồ Chí Minh nhưng lại trên cả Vơ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và Chu Văn Tấn…

Ngày 29 tháng 8 năm 1945, Trần Huy Liệu được giữ chức Bộ trưởng Tuyên Truyền trong Chính phủ Lâm Thời của Hồ Chí Minh và đă cầm đầu một phái đoàn của Việt Minh vào Huế để nhận ấn tín và sự thoái vị của Vua Bảo Đại. Trong những năm sau đó, Trần Huy Liệu được giữ những chức vụ quan trọng khác trong Tổng Bộ Việt Minh, Tổng Cục Chính Trị Quân Đội và Thường trực Quốc Hội.

Sau năm 1954, Trần Huy Liệu được giữ những chức vụ quan trọng trong lănh vực văn hóa như làm Trưởng Ban Nghiên cứu Văn-Sử-Địa, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xă hội Việt Nam, Viện trưởng Viện Sử học, Hội trưởng Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam cho đến khi mất vào năm 1969.

Đó là con người Trần Huy Liệu, một nhân vật có rất nhiều ảnh hưởng trong các lănh vực chính trị, văn hoá và nhất là lịch sử v́ vào đầu thập niên 1960, ông đang giữ chức vụ Viện trưởng Viện Sử Học.

Cán Binh Nam Bộ Tập Kết Làm Loạn Tại Bắc Việt

Vào năm 1963, trong khi t́nh h́nh kinh tế miền Bắc đang gặp phải nhiều khó khăn v́ nạn hạn hán, trong khi đảng Cộng sản Việt Nam đang bị chia rẽ trầm trọng v́ sự xung đột về ư thức hệ rất trầm trọng giưă hai nước Cộng sản đàn anh là Liên Xô và Trung Hoa Cộng sản, trong khi t́nh h́nh chiến sự tại miền Nam đang trở nên sôi động, câu hỏi được đặt ra là tại sao cũng đúng vào thời gian đó, đảng Cộng sản Việt Nam, qua giáo sư Trần Huy Liệu, lại cho mở nhiều cuộc hội thảo để chỉ trích, để đánh phá, để bôi nhọ và “hạ bệ” một vị danh nhân miền Nam đă từ trần từ năm 1867 tức là đă gần 100 năm về trước?

Trong bài này, người viết sẽ chỉ phân tích một số sự kiện đă xảy ra tại miền Bắc vào năm 1963 để thử t́m hiểu nguyên nhân tại sao Giáo sư Trần Huy Liệu lại bỏ nhiều th́ giờ, công sức và ảnh hưởng để làm việc này, ông ta tự ư hay là đă nhận được lệnh của những người khác cao cấp hơn ông để mở chiến dịch “hạ bệ” cụ Phan Thanh Giản và với mục đích ǵ?

Những người miềân Nam bị tập kết ra Bắc Việt vào năm 1954 và 1955 đều được Đảng hứa hẹn rằng sau hai năm, tức là đến tháng 7 năm 1956, th́ sẽ có cuộc bầu cử theo Hiệp Định Genève và họ sẽ được trở về Nam Bộ. Nhưng sau tháng 7 năm 1956 th́ cũng chẳng thấy bầu cử diễn ra và đến Tết năm 1957 th́ rất đông đảo người miền Nam tập kết đă vô cùng thất vọng, vô cùng bất măn và họ đă có những thái độ và hành động rất tiêu cực đối với Đảng và Nhà Nước, có nơi đă xảy ra những cuộc chống đối, nổi loạn và Nhà Nước đă phải sử dụng đến vơ lực để dẹp tan những vụ nổi loạn này.

Nhà văn Xuân Vũ, một người miền Nam tập kết ra Bắc vào năm 1954- 1955 và đă sống ở miền Bắc trong hơn 10 năm trước khi “đi B” tức là lên đường vào “giải phóng miền Nam,” tuy nhiên khi vào đến miền Nam th́ ông rời bỏ hàng ngũ Cộng sản và đă sáng tác rất nhiều tác phẩm lột trần bộ mặt thật của chế độ Cộng sản Hà Nội. Trong cuốn “Cách Mạng Tháng 8, Cha Đẻ của C̣ng Số 8,” ông Xuân Vũ có cho biết về t́nh h́nh những người Nam Bộ tập kết tại miền Bắc như sau:

“Thời năm 1956-1958, xă hội miền Bắc như một chảo dầu sôi, nơi th́ dân Nam Bộ tập kết bất măn bỏ cơ quan đi, nơi th́ thương binh Nam Bộ nổi dậy đánh chính quyền, chỗ th́ học sinh miền Nam đụng súng với du kích, cán bộ địa phương. Có cả một đoàn sĩ quan Nam Bộ điều dưỡng tại Sầm Sơn kéo nhau về Nam, một anh hùng quân đội, Nguyễn Văn Song, trốn đi về Nam đơn vị không t́m lại được…Trong khi đó th́ trung tá Phan Thanh Nhàn, người Bến Tre, bị hạ ngục v́ mắc tội “Ban Chữa Cháy Trung Ương” để ứng phó với t́nh thế. Có nghiă là nơi nào nổi dậy, làm loạn th́ ban chưă cháy phải đến, cái Ban đó có Nguyễn Trấn đứng một chân v́ ông ta là bậc trưởng thượng của dân Nam Kỳ nên tiếng nói của ông ta có tác dụng của những trận mưa dội xuống những đám cháy mới bốc.. ”

…“Những tên Nam Kỳ suốt 9 năm thờ lạy hung thần hang Pắc-Pó, bây giờ ra đất Bắc mới hiểu cái thắng lợi Điện Biên Phủ là cái…ǵ. Nhiều tên thối chí chửi quá sức tưởng tượng và chui xuống tàu “Arkhangels” hoặc “Starvoropol” [1] để trở về Nam sau khi đặt chân lên đất Bắc chỉ có một ngày.

Nổi tiếng nhất hồi đó là “vụ Ninh B́nh”: một số cán binh Nam Bộ tập kết v́ bị cán bộ địa phương đối xử bất công nên đă nổi loạn, bắt giữ bí thư tỉnh ủy, chủ tịch tỉnh và trưởng ty Công an Ninh B́nh làm con tin. Cộng sản Hà Nội phải cho triệu Tướng Tô Kư về để giàn xếp.  Trước năm 1954, Tô Kư là sư trưởng kiêm chính ủy Sư đoàn 330 ở Nam Bộ, khi tập kết ra Bắc được phong quân hàm thiếu tướng rồi được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân Khu Tả Ngạn. Tô Kư là người được các anh em bộ đội tập kết thương yêu và kính trọng v́ ông ta đối xử với đàn em rất b́nh dân như người Nam Kỳ, ông thường ra lệnh cho lính tráng gọi ông là “anh Ba” thay v́ thiếu tướng như những người khác.

Khi Tô Kư đến Ninh B́nh, ông đến gặp những người “nổi loạn” và thuyết phục họ ra đầu hàng, ông cũng hưá hẹn là nhà nước sẽ khoan hồng và sẽ cứu xét những điều khiếu nại của họ. Trong khi những người Nam Bộ tập kết này đang tập họp để chờ đợi “anh ba Tô Kư” điều đ́nh với Đảng ở Hà Nội th́ Tướng Phùng Thế Tài, Tổng Tham mưu Phó kiêm Tư Lệnh Pḥng không của Không Quân Bắc Việt, một viên tướng được mệnh danh là “tướng cao bồi” của quân đội miền Bắc, đến Ninh B́nh và đă ra lệnh cho bộ đội của ông ta mang tất cả những người miền Nam tập kết ra bắn bỏ tại bờ sông Đoan Vỹ tại Phủ Lư. Tướng Tô Kư đă nổi giận về việc giết người của Phùng Thế Tài và đă kiện lên Bộ Chính Trị về vụ sát nhân này nhưng Bộ Chính Trị lại ra mặt bênh vực Phùng Thế Tài, một người thân tín của Hồ Chí Minh, và cho rằng đó là một hành động chính đáng để đối phó với những “phần tử vô kỷ luật.” Sau vụ này, đa số dân Nam Bộ tập kết đều vô cùng bất măn và chính quyền Hà Nội phải ra lệnh cho đưa họ đi lên những nơi xa xôi trên vùng mạn ngược.

Lê Duẩn Được Chỉ Định Làm Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động Việt Nam

Trong bối cảnh đó, chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất” đă làm cho nông dân miền Bắc phẩn nộ và chống đối khắp nơi khiến cho Hồ Chí Minh phải đứng ra xin lỗi, sửa sai bằng cách hạ bệ Tổng Bí thư đảng Cộng sản là Trường Chinh và ông Hồ kiêm nhiệm luôn chức vụ này.

Như vậy, vào thời gian đó, Hồ Chí Minh giữ những chức vụ sau đây: Chủ Tịch Đảng Lao Động, Tổng Bí Thư Đảng Lao Động, Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Chủ Tịch Quân Ủy Hội. Đó là những chức vụ quan trọng hàng đầu trong hai guồng máy đảng và nhà nước mà ông Hồ Chí Minh th́ đă 70 tuổi rồi, bên phiá chính phủ th́ đă có Phạm Văn Đồng là người thân tín của ông giữ chức vụ thủ tướng, c̣n bên đảng th́ cũng cần có một người trẻ tuổi để lo việc điều hành bộ máy của đảng. Lúc bấy giờ, sau khi Trường Chinh bị mất chức, người được đảng viên và quân đội ủng hộ mạnh mẽ nhất là Đại Tướng Vơ Nguyên Giáp. Ông Vơ Nguyên Giáp là một người trí thức, đă từng làm giáo sư trước khi gia nhập đảng Cộng sản rồi trở thành đại tướng, ủy viên Bộ Chính Trị, bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng, được báo chí thế giới ca ngợi là “anh hùng Điện Biên Phủ”…Đối với quần chúng trong nước cũng như là các nhà quan sát quốc tế thời đó, ai cũng nghĩ rằng người sẽ được Hồ Chí Minh chọn làm Bí thư cho Đảng Lao Động Việt Nam phải là Vơ Nguyên Giáp và tất cả mọi người đều ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh công bố việc Lê Duẩn được chọn làm Bí Thư Thứ Nhất cho Đảng Lao Động vào năm 1960.

Lê Duẩn người gốc phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, tŕnh độ văn hoá chỉ có bằng “certificat” (tiểu học,) làm công nhân bẻ ghi cho sở Hỏa xa, gia nhập đảng Cộng sản từ năm 1930 và bị Pháp bắt bỏ tù từ năm 1931 đến 1936 tại Sơn La. Sau đó dến năm 1940 lại bị tù lần nưă và bị đày đi Côn Đảo cho đến năm 1945. Sau năm 1945, Lê Duẩn phục vụ tại Nam Bộ với chức vụ khiêm nhường là “Trưởng Pḥng Dân Quân Nam Bộ” nhưng sau khi Tướng Nguyễn B́nh bị Pháp phục kích bắn chết, Lê Duẩn trở thành Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ và người phụ tá cho Lê Duẩn là Lê Đức Thọ, ủy viên Ban Thường vụ Trung Ương Đảng.

Đối với giới lănh đạo cũng như các đảng viên Cộng sản lăo thành tại miền Bắc, Lê Duẩn chỉ là một kẻ vô danh v́ bị ở tù trên 10 năm rồi sau đó chỉ hoạt động nhiều năm tại Nam Bộ, Lê Duẩn không có tŕnh độ văn  hóa, không có hậu thuẫn cũng như sự ủng hộ của ai ở miền Bắc, tuy nhiên Lê Duẩn lại được chỉ định vào chức vụ Bí Thư Thứ Nhất, đánh bại ông giáo sư Sử học, đại tướng Vơ Nguyên Giáp, người được ông Hồ Chí Minh rất thương yêu từ hồi c̣n ở Trung Hoa và đă được ông Hồ ưu ái đặt tên là “đồng chí Văn” từ ngày c̣n ở Tân Trào.

Ông Hồ Chí Minh tuyên bố rằng chọn Lê Duẩn làm Bí Thư Thứ Nhất là tại v́ đồng chí Lê Duẩn đại diện cho Nam Bộ, “Nam Bộ là thành đồng tổ quốc” và “Miền Nam luôn luôn ở trong tim tôi,” tuy nhiên về sau th́ những nhà phân tích mới thấy rơ cái thâm ư của Hồ Chí Minh: ông Hồ “sợ” một người có tài và có uy tín như Vơ Nguyên Giáp v́ một khi Vơ Nguyên Giáp có quyền hành trong tay th́ họ Vơ có thể sẽ có uy tín hơn cả Hồ Chí Minh và có thể lật đổ họ Hồ, trong khi đó chọn một người ít học, không có ảnh hưởng và hậu thuẩn ǵ ở miền Bắc như Lê Duẩn th́ sẽ không bao giờ dám phản lại Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đă phạm một lỗi lầm vô cùng tai hại cho ông ta v́ chỉ trong ṿng có 3 năm, với sự trợ giúp của người đồng chí từ miền Nam là Lê Đức Thọ trong cương vị Trưởng Ban Tổ Chức Đảng, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đă thu tóm trọn quyền lực và Hồ Chí Minh bị hai “đồng chí họ Lê” tước hết mọi quyền hành, chỉ c̣n “ngồi chơi xơi nước” từ cuối năm 1963. Theo nhà văn Vũ Thư Hiên th́ ông Hồ bị mất quyền lực vào khoảng trước năm 1965, sau khi ông Ngô Đ́nh Diệm bị giết:

“Năm 1965, trong một cuộc nói chuyện với cán bộ tuyên giáo ở Hưng Yên, Trưởng Ban Tuyên Giáo Trung Ương Tố Hữu nói: “Ông Cụ “lẫn cẩn” (có lẽ là “lẩm cẩm” theo tiếng miền Nam) rồi, mọi việc bây giờ đều do anh Ba (Lê Duẩn) và tụi tôi giải quyết.” [1]

Giới Trí Thức Nam Bộ Coi Thường Lê Duẩn

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Việt Minh chia nước Việt Nam thành 9 khu và Nam Bộ được chia thành 3 khu: vùng miền Đông được gọi là Khu 7, vùng ở giưă hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang được gọi là Khu 8 và vùng từ sông Hậu giang về tận Cà Mau được gọi là Khu 9. Lê Duẩn là người gốc Trung Kỳ cùng với Lê Đức Thọ gốc Bắc Kỳ nắm quyền chỉ huy của cả Nam Bộ, tuy nhiên một số người Nam Kỳ vẫn c̣n được giao cho quyền chỉ huy một vài vùng như Nguyễn Văn Trấn được làm tư lệnh kiêm chính ủy khu 8, Huỳnh Văn Nghệ được làm tư lệnh Khu 7  v.v.

Trong thời kỳ trước năm 1945, số đảng viên Cộng sản được huấn luyện tại Liên Xô, Trung Quốc rất là hiếm hoi, có thể nói là chỉ được đếm trên đầu ngón tay, đại đa số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đều được huấn luyện ở trong nước, đa số là trong những nhà tù của thực dân Pháp và tŕnh độ văn hóa cũng như chính trị cuả nhóm này th́ rất tầm thường, chẳng có ǵ đáng kể. Tuy nhiên có một số đảng viên Cộng sản rất trí thức, rất có học, ngay cả về chủ thuyết Cộng sản, họ cũngï học c̣n cao hơn cả Hồ Chí Minh, hơn cả Vơ Nguyên Giáp, hơn cả Phạm Văn Đồng, hơn cả Trường Chinh v.v., đa số những đảng viên này là những người đă từng du học ở Pháp, có người là đảng viên của đảng Cộng sản Pháp chứ không phải đảng Cộng sản Đông Dương và gần như hầu hết những người này đều là người…Nam Bộ. Trong tổng số 20 đảng viên Cộng sản người Việt Nam được đào tạo tại Trường Lao Động Đông Phương ở Liên Xô, vào thập niên 1960 chỉ có 5 người c̣n sống sót, ngoài Nguyễn Khánh Toàn là người Huế, 4 người c̣n lại đều là gốc Nam Bộ: đó là Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn và Trần Văn Giàu.

Ngay từ thời kháng chiến chống Pháp cho đến sau khi tập kết ra Bắc, đám trí thức này vẫn coi thường Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và đám tay chân của họ cho nên sau khi hai người này nắm được quyền hành th́ họ bắt đầu có những âm mưu triệt hạ ảnh hưởng của đám đảng viên người Nam Bộ trí thức này và cơ hội đă đến khi Đảng Cộng sản họp Hôị Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Lần Thứ 9, gọi tắt là Hội nghị 9 vào tháng 12 năm 1963 để thảo luận về vấn đề lập trường của Đảng lao Động Việt Nam trước cuộc tranh chấp giưă hai nước đàn anh là Liên Xô và Trung Quốc.

Nạn nhân đầu tiên là Dương Bạch Mai, cựu học viên trường Lao Động Đông Phương tức là trường Staline ở Mạc Tư Khoa.

Dương Bạch Mai là người gốc Bà Rịa, gia nhập đảng Cộng sản Pháp thời c̣n rất trẻ, ông sang Liên Xô theo học trường Lao Động Đông Phương trong 2 năm 1930-1931 rồi sang học ở Paris  khoảng 1936, 1937. Ông ra ứng cử và đắc cử vào Hội Đồng Thành phố Sài G̣n năm 1937 rồi bị Pháp bắt giam vào năm 1940. Năm 1945, Dương Bạch Mai giữ chức Thanh Tra Chính trị Miền Đông kiêm Tổng Giám Đốc Công An trong Lâm Ủy Hành Chánh của Trần Văn Giàu và trong chức vụ này, Dương Bạch Mai là người chịu trách nhiệm về việc hàng chục ngàn người bị Công an Việt Minh thủ tiêu vào năm 1945. Năm 1946. Dương Bạch Mai đắc cử vào quốc hội rồi đi theo kháng chiến và vào đầu thập niên 1960 được giữ chức Ủy viên Ban Thường vụ Quốc Hội và Phó Chủ tịch Hội Việt-Xô Hữu Nghị. Con trai của ông Vũ Đ́nh Huỳnh, bí thư của chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945, là nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết về ông Dương Bạch Mai như sau:

“Ông Dương Bạch Mai nói với tôi rằng ông không được ḷng Hồ Chí Minh. Dương Bạch Mai có cái tật sống quá thẳng. Ông ngang tàng, không chịu g̣ ḿnh vào tôn ti trật tự phong kiến, ông bạt mạng trong lời ăn tiếng nói. Đă quen với những lời tâng bốc, xưng tụng, ông Hồ Chí Minh có không ưa ông cũng phải.

“Trường Chinh cũng không ưa Dương Bạch Mai. Điều này không khó hiểu. Trong Trường Chinh có mặc cảm của kẻ ngă ngưạ. Sau sai lầm Cải cách Ruộng đất ông đinh ninh ai cũng coi thường ḿnh. Dương Bạch Mai phản đối Nghị quyết 9 th́ Trường Chinh lại coi ông phản đối ḿnh.

“Lê Duẩn đặc biệt không ưa Dương Bạch Mai. Theo nhận định của những người từ Nam Bộ ra Bắc tập kết th́ sự không ưa này không phải v́ nguyên do chính trị. Cái chính là là Lê Duẩn biết ḿnh chẳng bao giờ có được cái mà Dương Bạch Mai có-sự nổi tiếng với tư cách một thủ lĩnh có trí tuệ. Dương Bạch Mai nói với tôi về Lê Duẩn: “cháu để ư tới cái thằng cha ấy làm chi! Tâm trí bậc nam nhi là để cho sự nghiệp, thằng này th́ thời chỉ lo kiếm chác vinh quang và quyền lực, lúc nào cũng nơm nớp sợ người khác hơn ḿnh. Sự nghiệp và vinh quang là hai thứ khác nhau, như ngôi nhà với nước vôi phủ bên ngoài nó, cháu à!”

Dương Bạch Mai, nếu c̣n sống, chắc sẽ chịu chung số phận với chúng tôi (ghi chú: Vũ Thư Hiên và thân phụ là Vũ Đ́nh Huỳnh đều bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ giam ở nhà tù Hỏa Ḷ trong bảy tám năm trời mà không hề bị đưa ra toà xét xử.) Không phải chắc, mà chắc chắn. Từ khi có cuộc đấu tranh giưă hai đường lối (giưă Liên Xô và Trung Cộng) ông chống lại việc đưa nước Việt Nam vào quỹ đạo chủ nghiă Mao. Ông gọi chủ nghiă Mao là món “tạp-pí-lù của thổ phỉ.” Giưă lúc ngành tuyên truyền Việt Nam đưa Mao Trạch Đông lên hàng thánh sống th́ ông ngang nhiên gọi Mao là tên đao phủ của đại pháp trường Trung Quốc…”

“Những nhận định ngược đời của Dương Bạch Mai làm cho các nhà lănh đạo Việt Nam hết hồn. Sở dĩ ông chưa bị đụng tới là v́ ông có danh tiếng, có uy tín lớn trong quần chúng.

“Dương Bạch Mai qua đời khi ông là ủy viên Ban Thường vụ Quốc Hội. Với Nghị quyết 9, đảng Cộng sản Việt Nam phân hoá thành hai cực-một bên là những người chủ nghiă xă hội dân chủ pháp trị, đ̣i kiến tạo một xă hộ công dân có nhân quyền, bên kia là Đảng cầm quyền kiên tŕ một chủ nghiă xă hội chuyên chế. Đó là những ngày không thể nào quên. Dương Bạch Mai, con hổ dữ chống lại đường lối thân Trung Quốc đột tử khi ông đang dự cuộc họp quốc hội tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Vào lúc giải lao, các đại biểu kéo nhau đi uống bia ở bar, ông Mai thết trước các bạn một chầu bia mừng sinh nhật của ông ngày hôm sau. Ông ngă xuống. Ly bia chưa cạn. Khi xe cấp cứu đến, Bác sĩ Tôn Thất Tùng (giáo sư Y khoa, y sĩ riêng của Hồ Chí Minh) định nhảy lên xe cùng đi tới bệnh viện th́ bị hai thanh niên lực lưỡng áp sát ông: “mời bác sĩ quay lại tiếp tục họp Quốc Hội, việc nước quan trọng hơn.” Chiếc xe cấp cứu phóng đi trước khi Tôn Thất Tùng hiểu chuyện ǵ xảy ra với ông, hai thanh niên kia là ai và tại sao họ lại ngăn cản ông đi cùng xe để săn sóc bạn ông?

“Cái chết của Dương Bạch Mai gợi nên một nghi vấn. Ông ngả xuống đúng vào lúc ông sắp sưả đọc một diễn văn nảy lưả chống lại đường lối xây dựng xă hội trại lính của Mao, đ̣i Đảng phải cải thiện đời sống cho dân chúng, đ̣i thực hiện dân chủ trong nội bộ Đảng, trong xă hội và hàng loạt vấn đề khác. Bài diễn văn ông đút trong túi áo để đọc trước Quốc Hội biến mất…”

“Sau này, nhân vụ tướng Hoàng Văn Thái rồi tướng Lê Trọng Tấn thay nhau đột tử đúng lúc chuẩn bị nhậm chức Bộ trưởng Quốc Pḥng, dư luận lại nhắc tới cái chết đáng ngờ của Dương Bạch Mai nhiều năm về trước…”

Nhà văn Xuân Vũ cũng có nhắc đến cái chết của Dương Bạch Mai ngay tại quốc hội ở Hà Nội như sau:

“Chuông điện rung lên hết giờ giải lao, các đại biểu trở lại chỗ ngồi, nhưng Dương nghị sĩ c̣n hăng hái diễn thuyết, đến sực tỉnh “giấc ngủ mười năm” quay lại th́ chỉ c̣n ḿnh với cô phục vụ viên giải khát. Cô nàng đưa chai nước ngọt Hồng Hà đă khui nắp, tươi cười: “Mời bác Tư (Dương Bạch Mai thứ tư) dùng.” Ngài nghị sĩ ḥ hét hơi khan cổ nên chụp lấy trút vào mồm để chạy lên ghế chủ tịch đoàn cho kịp giờ. Nhưng than ôi, cái ghế đó không bao giờ bác Tư Mai trở lại được. Chỉ hai ngụm nốc vào, chưa nuốt xong ngụm thứ ba th́ bác Tư xoay tṛn và ngă đánh rật xuống nền gạch bông của ṭa nhà Quốc Hội tại phiên khoáng đại hồi thập niên năm 1960…

“Ghê gớm thay! Một cái chuyện đời, một chuyện của cách mạng vô sản Việt Nam. Nào có khác ǵ cách mạng vô sản ở Liên Xô và bên Tàu. Tôi viết lại câu chuyện này để cho đồng bào Nam Bộ, những người của “Muà Thu rồi…” và cho ḍng họ, bà con nghị sĩ Dương Bạch Mai đọc với trí nhớ càng ngày càng sáng tỏ của tôi, đặc biệt là về những thảm kịch như vầy.”

Như vậy th́ theo cả hai nhà văn Vũ Thư Hiên, người Bắc và nhà văn Xuân Vũ, người Nam tập kết, có nhiều dư luận tại Hà Nội nghi ngờ rằng ông Dương Bạch Mai chết  khi mới có 60 tuổi v́ đă bị đầu độc. Người có khả năng làm được việc đó phải có quyền, có quyền đến độ có thể giết cả “bạn gái” Nông Thị Xuân của Hồ Chí Minh rồi liệng xác xuống đường và người đó không ai khác hơn là Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Nội Vụ. Nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết rằng Trần Quốc Hoàn là “đệ tử ruột” của Lê Đức Thọ v́ hồi đó bộ Nội Vụ, sau này đổi lại thành bộ Công An, là trực thuộc dưới quyền Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng của Lê Đức Thọ .

Theo nhà văn Vũ Thư Hiên, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ Trưởng Y Tế, cựu chủ tịch Thanh Niên Tiền Phong ở Nam Bộ trước ngày kháng chiến cũng bị hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ “không ưa”:

“Ông Phạm Ngọc Thạch, trong một câu chuyện vui tại nhà tôi hồi đầu thập niên 1960, nói với ông Dương BạchMai:

-Mấy chả không ưa mầy, v́ mầy thẳng ruột ngựa, nghĩ sao nói dzậy, làm mấy chả mếch ḷng mới lôi cái vụ mầy hợp tác với đám tờ-rốt-kít ra mà rêu rao.

-Th́ mầy cũng bị mấy chả rêu rao là có thời thân Nhật đó nưă. Chơi với tơ-rốt-kít th́ mầy cũng chơi chớ bộ.

Rồi Dương Bạch Mai cười ngất:

-Nè, cẩn thận đó, sổ đen của mấy chả chỉ có ghi thêm thôi chớ không có xóa đi đâu nghen.”

“Mấy chả” đây là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

C̣n Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Ngoại Giao, cũng là người Nam Bộ?

Nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết: “ Lê Duẩn không ưa Ung Văn Khiêm, luôn luôn thọc gậy bánh xe, t́m cách tống Ung Văn Khiêm về hưu. Vụ “bản tuyên bố chung” Hồ Chí Minh kư với lănh tụ đảng Cộng sản Tiệp Khắc Novotny là do Ung Văn Khiêm thảo, Hồ Chí Minh duyệt rồi kư, sau bị Lê Đức Thọ đổ riệt cho một ḿnh Ung Văn Khiêm để đưa ông ra khỏi bộ Ngoại giao. Trong việc này, bàn tay Lê Duẩn rất rơ. Nhưng đó là chuyện về sau…”

Ông Nguyễn Văn Trấn, cựu tư lệnh kiêm chính ủy Khu 8 tại Nam Bộ có kể lại ông Ung Văn Khiêm nói về chuyện này trong cuốn sách “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội” của ông như sau:

“Trước khi vào hội nghị, tao có tranh thủ nói riêng với ông cụ, là tao sẽ không đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và Novotny, cho ông cụ yên tâm. V́ trong bản thảo ấy ông cụ có thêm mấy chỗ, c̣n mang tuồng chữ của monsieur Hồ chí Minh rành rành. Tao nghĩ bản thảo ấy đưa ra không phân bua ǵ cho tao, mà chỉ làm thớt cho Sáu Thọ băm ông cụ…

“Hội nghị 9 này có thông qua cái “ nghị quyết 9” và mấy anh ấy nói là cũng có trên 10 ủy viên trung ương không bỏ thăm. Anh Khiêm lộ bí mật: “Tao có hỏi mí ông cụ có bỏ thăm không. Ông cụ làm thinh.”(Ghi chú: Ông Cụ ở dây là Hồ Chí Minh.) [1]

      Nhà văn Xuân Vũ cũng đă mượn lời của bà vợ Ung Văn Khiêm nói về việc này như sau: “Rồi Chị Ba nổi giận, ra bộ tịch: “Chời ơi chời! Hỏi vậy, em là Chủ tịch, người ta đưa giấy cho em kư. Trước khi kư, em phải coi lại rồi mới thọc bút kư chớ! Ai biểu em nhắm mắt kư rồi chê trật, chê trúng. Người ta ỷ có quyền người ta muốn làm ǵ th́ làm, muốn nói sao hay vậy! Nhưng Anh Ba em đâu có chịu thua. Anh Ba em cự lộn dữ lắm. Nhưng cự th́ cự chớ đâu có ăn nổi tụi chó hùa…”

“Người ta” mà bà vợ của Ung Văn Khiêm nói ở đây không ai khác hơn là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.

Lê Duẩn Muốn Đập Tan Ảnh Hưởng của Nhóm Trí Thức Nam Bộ

Không riêng ǵ Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch, Ung Văn Khiêm, những nhân vật trí thức và cán bộ cao cấp miền Nam tập kết ra Bắc như Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Trấn, Huỳnh Văn Nghệ v.v. đều bị thất sủng v́ họ không những không chịu thần phục hai người lănh đạo của Cộng sản thời Nam Bộ Kháng chiến là “anh Ba”ø Lê Duẩn và “anh Sáu” Lê Đức Thọ, lúc đó được tặng thêm một tên mới nưă là “Sáu Búa,” mà ngược lại, dù lúc bấy giờ hai người này đă trở thành những người nắm vận mạng Đảng Cộng sản và chính quyền ở Bắc Việt, họ vẫn chống đối và coi thường, coi thường đến cái độ họ vẫn gọi cả Lê Duẩn và Lê Đức Thọ bằng “thằng.”

Trong cuốn “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội,” ông Nguyễn Văn Trấn kể lại lời của ông Bùi Công Trừng:

“Tao nói cho mầy nghe nha, Bùi công Trừng nói tiếp, về chuyện lăo Hồ Chí Minh. Tao nghe, thằng Thọ âm mưu lật đổ ông già, và lấy Nguyễn chí Thanh thay. Ông lăo chỉ c̣n làm người chuyên nghiên cứu lư luận Mác- Lê nin. Chuyện nước giao cho Nguyễn chí Thanh. Việc Đảng, Status quo – Lê Duẩn. Cái thằng tự nhiên lại muốn làm Khổng Tử này, khó lật đổ nó lắm. V́ nó có công trạng ở Nam Bộ, và mấy bà má ôm nó chum chủm trong ḷng.

 “Mầy coi, coi nó tội nghiệp không. Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận bộ đồ lụa gụ, chủ tŕ hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ tai tự nhiên nó phải hứng những lời công kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô, đưa tay để nói, th́ thằng Thọ lễ phép Bắc hà, “ Bác hăy để cho anh em người ta nói đă mà .” Tao đếm lăo Hồ đưa tay mấy lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông nói ca dao bằng tiếng khóc: “Khi thương trái ấu cũng tṛn, Khi ghét bồ ḥn cũng méo…”

Theo ông Vũ Thư Hiên th́ “khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, Lê Duẩn c̣n lâu mới được coi là ngang hàng với những nhân vật nổi tiếng trong phong trào cách mạng miền Nam như Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Dương Bạch Mai…Những nhà cách mạng trí thức khi ra Hà Nội họp Quốc Hội (1946) và tham gia chính phủ đoàn kết dân tộc với tư cách đại diện “miền Nam thành đồng,” bị kẹt lại miền Bắc vào thời điểm kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Vắng mặt họ, Lê Duẩn mới dần dần từ những chức vụ khiêm tốn bước lên địa vị người lănh đạo kháng chiến Nam Bộ.” [1]

C̣n Lê Đức Thọ: “Sáu Buá Lê Đức Thọ là người miền Bắc, được Trường Chinh cử vào Nam năm 1947 với tư cách ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng để nắm Trung Ương Cục miền Nam, nhưng Lê Đức Thọ đă không một lần tranh được chức bí thư miền Nam. Cũng có hục hặc với Lê Duẩn, nhưng sau đó ư thức được thân phận ḿnh trên đất lạ, Lê Đức Thọ lại t́m sự liên minh với Ba Duẩn để trở thành “Sáu Búa”… [1]

Trần Huy Liệu: Viết Sử Theo “Lối định Đề”

Nhà văn Xuân Vũ nhận xét rằng “bọn Lê Duẩn…có ba cái sợ: một là sợ trí thức, hai là sợ tôn giáo, ba là sợ dân Nam Kỳ.” [1]

Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao những người trí thức Nam Kỳ đă bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ “cho ra rià,”  theo cách nói của ông Xuân Vũ. Cho ra rià chưa đủ, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ c̣n t́m cách hạ luôn cả giới trí thức Nam Kỳ và xa hơn nưă là cả nền văn hoá đặc thù của miền Nam. Người được chọn để đảm nhiệm công việc này là một nhà báo miền Bắc đă từng sống ở Sài G̣n, đă từng cộng tác với nhiều tờ báo ở Sài G̣n hồi thập niên 1920, người đó là Trần Huy Liệu, lúc đó đang giữ chức Viện Trưởng Viện Sử Học.

Trần Văn Giàu là một nhà trí thức Cộng sản nổi tiếng từ khi c̣n du học ở Pháp, ông đậu bằng Tiến Sĩ về Sử học tại Toulouse nhưng sau đó bị đuổi về Việt Nam năm 1931. Ông lén trốn sang Nga Xô và ông được nổi tiếng v́ vào năm 1933, ông tốt nghiệp thủ khoa trường Lao Động Đông Phương ở Mạc Tư Khoa mà người đậu thứ nh́ là ông Maurice Thorez, sau này là Chủ tịch Đảng Cộng sản Pháp. Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, Trần Văn Giàu giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến Nam Bộ, gọi tắt là “Lâm Ủy Hành Chánh,” kiêm Ủy Viên trưởng Quân sự và Giàu cùng với Dương Bạch Mai là hai người chịu trách nhiệm về việc khoảng trên hai vạn người thuộc thành phần trí thức, tiểu tư sản, Cao Đài, Ḥa Hảo v.v. bị Việt Minh thủ tiêu tại Nam Bộ vào tháng 9 năm 1945, trong số này có cả Luật sư, nhà báo Diệp Văn Kỳ, học tṛ của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy, thân phụ của Hồ chí Minh. Sau đó, Trần Văn Giàu ra Bắc nhưng không được trọng dụng, chỉ được làm việc trong Hội Nghiên Cứu Mác-xít và đi dạy học, tuy nhiên Trần Văn Giàu cũng là người c̣n  có nhiều uy tín trong giới Nam Bộ tập kết. Nhà văn Xuân Vũ đă trích dẫn lời của Trần Văn Giàu nhận xét về Trần Huy Liệu như sau:

“Giàu đă căi lộn với Trần Huy Liệu. Giàu gọi là “ông già Liệu” (lúc đó mới khoảng 60 tuổi), có tính cách chế diễu Trần Huy Liệu là tên chỉ làm những việc do ở trên sai bảo, v́ tên “sử gia” này viết sử theo lối “định đề.” Liệu c̣n nhận định láo rằng “dân tộc Việt Nam h́nh thành từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương…”

Nhà văn Vũ Thư Hiên cũng có tiết lộ thêm một vài chi tiết về Trần Huy Liệu. Ông cho biết rằng  bạn của ông là Nguyễn Trọng Luật đă có nhận xét về việc ông Vũ Đ́nh Huỳnh bị bắt rằng: “ nhưng Thọ muốn th́ Duẩn  cũng không ngăn, mọi việc Thọ làm từ trước tới nay đều v́ lợi ích của cả hai. Thằng này làm việc đó để làm ǵ, nhằm mục đích ǵ? Anh ngờ  bên trong vụ này có điều uẩn khúc, liên quan tới thời kỳ Thọ ở Sơn La.” Trong phần ghi chú, Vũ Thư Hiên nói thêm rằng “Anh Luật có lư trong suy luận: trong vụ trấn áp “nhóm xét lại chống Đảng,” chỉ có những người tù cũ ở Sơn La cùng với Lê Đức Thọ bị bắt. Có lần tôi nghe Tướng Đặng Kim Giang nói về chuyện công sứ Coussot (tên chính thức là Cousseau) có mua chuộc được vài tên phản bội làm chỉ điểm, do đó có những kế hoạch của ban lănh đạo tù nhân bị lộ.” [1]

“Ngoài chuyện tính cách, chắc cha tôi c̣n có điều nghi ngờ Lê Đức Thọ trong sự liên lạc thậm thụt với công sứ Cousseau mà ông biết trong thời gian ông làm thư kư trong nhà tù Sơn La. Vào những năm này, những cựu tù nhân Sơn La kể lại, Lê Đức Thọ một hồi được Cousseau lấy ra làm tạp dịch tại nhà y. Cũng trong thời gian này một số việc của ban lănh đạo tù nhân bị lộ. Tướng Nguyễn Kim Giang cũng có chung với cha tôi mối nghi ngờ đó… Nhưng cả hai im lặng. Với một Lê Đức Thọ quyền sinh quyền sát như thế, giữ im lặng là phải. Mặc dù cùng tù với nhau ở Sơn La nhưng cha tôi không bao giờ coi Thọ là bạn. Ông Đặng Kim Giang cũng vậy. Dưới con mắt của ông, Lê Đức Thọ là một tên hạ lưu hănh tiến…”           

Trần Huy Liệu cũng bị tù ở Sơn La cùng thời với Lê Đức Thọ (1939-1945) và theo Vũ Thư Hiên th́ “Thọ đă nhiều lần mưu mô hạ các đồng chí lăo thành cách mạng để tôn ḿnh lên. Việc Thọ xúi giục một số đồng chí hăng hái thái quá buộc ông Trần Huy Liệu, cựu đảng viên Quốc Dân Đảng, phải lên án đảng cũ của ḿnh là manh động trong khởi nghiă Yên bái là một thí dụ…”

Nghe nói Trần Huy Liệu không đọc bản báo cáo kết tội Việt Nam Quốc Dân Đảng v́ lănh tụ Nguyễn Thái Học cùng những vị anh hùng của Việt Nam Quốc Dân Đảng đă anh dũng hy sinh trên đoạn đầu đài của thực dân Pháp chỉ mới cách đó hơn hai mươi năm và c̣n được toàn dân Việt Nam tôn sùng kính phục, tuy nhiên sau khi Tướng Đặng Kim Giang, “anh hùng Điện Biên Phủ,” ông Vũ Đ́nh Huỳnh, cựu bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh bị vào tù th́ Trần Huy Liệu phải lo thủ lấy thân và phải làm những việc “do ở trên sai bảo.” Khi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ muốn t́m cách hạ bệ một thần tượng của giới trí thức Nam Kỳ th́ Trần Huy Liệu không dám từ chối chống lại dù rằng phải “viết sử theo lối định đề.”

Với tư cách là một giáo sư Sửû học, với tư cách là Viện Trưởng Viện Sử Học, Trần Huy Liệu đă t́m được một đối tượng đại diện cho miền Nam, đó là Cụ Phan Thanh Giản, người đă tử tiết gần một thế kỷ về trước. Đă từng sống ở Nam Kỳ, Trần Huy Liệu biết rằng người dân miềân Nam tôn thờ cụ Phan Thanh Giản, vị tiến sĩ đầu tiên của miền Nam và cũng là đại diện cho giới trí thức, cho ḷng yêu nước của người dân miền Nam. So với uy tín của Cụ Phan Thanh Giản trong quần chúng, những người trí thức Cộng sản như  Dương Bạch Mai, như Trần Văn Giàu, như Ung Văn Khiêm, như Nguyễn Văn Trấn v.v. cùng với bao nhiêu người Nam bộ khác c̣n ở miền Bắc và hàng triệu người ở miền Nam đâu có quan trọng bằng, do đó chỉ cần hạ bệ cái thần tượng anh hùng của Cụ Phan Thanh Giản là có thể đập tan được cái ảnh hưởng của “bọn trí thức Nam Kỳ” từ Bắc chí Nam. Việc giáo sư Sử học Trần Huy Liệu chọn Phan Thanh Giản làm đối tượng để lên án chẳng có ǵ mới lạ v́ hồi thế kỷ thứ 19, chính vua Tự Đức cũng đă kết tội và ra lệnh đục bỏ tên của Phan Thanh Giản khỏi bia đá tiến sĩ.

Người viết không được đọc nguyên văn bài của ông Trần Huy Liệu, nhưng theo Giáo sư Phan Huy Lê th́ đó là một “bài kết luận” được đăng trên Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử số 55 vào tháng 10 năm 1963 và đến 12 năm sau th́ người Cộng sản đă áp dụng những điều đă được “nhất trí” trong bài kết luận này, do đó có thể nói đây là một bản nghị quyết về lập trường của đảng Lao Động Việt Nam thời thập niên 1960 đối với cụ Phan Thanh Giản.

Sau năm 1975, tất cả những tên đường, những trường học mang tên Cụ Phan Thanh Giản đă bị hủy bỏ ngay sau khi Cộng sản Hà Nội chiếm được miền Nam theo lệnh của hai người lănh đạo cao cấp nhất của Đảng Cộng sản: Tổng Bí Thư Lê Duẩn và Uỷ Viên Bộ Chính Trị Lê Đức Thọ. Như vậy, có thể nói rằng Trần Huy Liệu đă “viết sử theo lối định đề” v́ đă được Lê Duẩn và Lê Đức Thọ “ở trên sai bảo” phải làm như vậy.                                                                

Sau tháng tư năm 1975, những khuôn mặt trí thức tại miền Nam, từ những thành viên trong  cái gọi là “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam,” từ những thành viên trong cái gọi là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam” cho đến những phần tử trí thức đă theo Cộng sản từ năm 1945 và đă tập kết ra Bắc vào năm 1954, tất cả đều trở thành những cái bóng mờ không một tiếng nói trong một nước Việt Nam “thống nhất” dưới quyền lănh đạo tuyệt đối của nhóm Lê Duẩn-Lê Đức Thọ.

Họ đă đạt được mục tiêu mà họ muốn vào lúc đó.

Người viết chỉ căn cứ vào những sự kiện đă được ghi chép lại qua một vài cuốn sách đă được xuất bản và qua những câu chuyện truyền khẩu để t́m hiểu thêm về nguyên nhân của việc Trần Huy Liệu đă kết tội Cụ Phan Thanh Giản là “phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc” tức là tội “phản quốc” và đă t́m thấy rằng một trong những nguyên nhân đó, có lẽ là hai ông cựu lănh đạo Nam Bộ Kháng Chiến, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, căm hận giới trí thức Nam Kỳ đă tỏ ra coi thường vai tṛ lănh đạo của họ cho nên đă t́m cách trả thù.

Lịch sử thường được viết bởi những kẻ chiến thắng.

Vào năm 1975, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là những kẻ chiến thắng.

Cũng như vào năm 1917 tại Nga, những người Bolcheviks là những kẻ chiến thắng và sau đó tất cả những thành phố, những đền đài cung điện, những tên đường phố có mang tên những vị vua chúa, những vị anh hùng thời Nga Hoàng đều bị đổi tên. Sau năm 1991, những người Bolcheviks không c̣n nưă và nhân dân Nga đă lấy lại tên cũ của những thành phố, tên cũ của những vị anh hùng trong lịch sử của họ để trả lại cho những thành phố, những trường học, những công viên, những con đường đă bị mất tên hơn 70 năm về trước.

Một vị giáo sư người Mỹ có nói với người viết rằng ngày xưa Leo Tolstoy viết cuốn “War and Peace” với những tên đường phố thời đó và sau năm 1917 th́ những con đường trong thành phố St Petersburg đều  bị đổi tên và cả thành phố này cũng bị đổi thành “Leningrad,” tên của người lănh đạo cuộc cách mạng Bolcheviks của Liên Xô và là vị “cha già của Xă Hội Chủ Nghiă,”ơ cũng giống như những người Cộng sản Việt Nam đổi tên thành phố Sài G̣n ra “Thành phố Hồ Chí Minh” sau năm 1975. Tuy nhiên sau năm 1991, khi chế độ Cộng sản bị sụp đổ th́ thành phố này lại được nhân dân Nga trả lại tên cũ “St Petersburg” sau gần 75 năm bị mất tên và tất cả những con đường trong thành phố thơ mộng này cũng đă được trả lại những tên cũ “y chang” như Leo Tolstoy mô tả vào thời cuối thế kỷ thứ 19.

Cựu Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt: Phan Thanh Giản là Người Yêu Nước, Thương Dân, Đáng Để Lại Gương Soi Cho Hậu Thế

Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây có những dấu hiệu cho thấy có một vài sự cởi mở dè dặt, tuy không chính thức, nhưng chính quyền Cộng sản Việt Nam đă “không ngăn cấm” việc tổ chức một số hội thảo hay là “tọa đàm khoa học” về nhân vật Phan Thanh Giản.

Lần đầu tiên vào năm 1994, một cuộc hội thảo về nhân vật Phan Thanh Giản đă được tổ chức tại Vĩnh Long theo sự yêu cầu của nhân dân hai tỉnh Bến Tre, quê hương của cụ Phan và Vĩnh Long, nơi cụ Phan trấn nhậm và tử tiết vào năm 1867. Cuộc hội thảo này có sự tham dự của 19 vị diễn giả, trong số đó có  Luật sư Phan Thanh Hy, hậu duệ đời thứ 5 của cụ Phan đang sống tại Pháp (vưà mới từ trần năm 2004) với bài “Cái Chết của Phan Thanh Giản” và Giáo sư Phan Huy Lê, một học giả về văn hoá và lịch sử Việt Nam, sau này đă xuất bản một cuốn sách về cụ Phan vào năm 1997: “Phan Thanh Giản (1796-1867), Con Người, Sự Nghiệp và Bi Kịch Cuối Đời”.

Trong bài kết thúc cuộc hội thảo này, Giáo Sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, giáo sư Sử học trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, đă kết luận rằng “tất cả chúng ta đều nhất trí không nên và không thể gán cho ông Phan Thanh Giản cái tội bán nước hay phản tổ quốc. Đó là sự quy kết quá nặng nề không có căn cứ, vưà không đúng hành động và động cơ của ông, vưà trái với tấm ḷng ngưỡng mộ kính mến mà xưa nay nhân dân quê hương đă dành cho ông…” [1]

Như vậy th́ lời lẽ được sử dụng trong bài kết luận này hoàn toàn khác hẵn bài kết luận của Trần Huy Liệu, có thể nói là đă đi ngược hoàn toàn với quan điểm của Trần Huy Liệu hay là của Đảng vào năm 1963.

Điều đáng chú ư là cuộc hội thảo này lại được chính giáo sư Phan Huy Lê đúc kết, ông Lê là một trong những vị giáo sư Sử Học có uy tín đứng hàng đầu trong nước Việt Nam. Thêm một điều nưă cũng rất đáng chú ư là cuộc hội thảo được tổ chức tại tỉnh Vĩnh Long. Một trong những người ở địa phương  có trách nhiệm đứng ra tổ chức cuộc hội thảo này là Nguyễn Chiến Thắng, bí danh là Sao Vàng, lúc đó giữ chức vụ Thường Vụ Tỉnh Ủy-Trưởng Ban Tuyên Giáo tỉnh Vĩnh Long. Nguyễn Chiến Thắng là người được xem như là rất thân tín của ông Vơ Văn Kiệt tại Vĩnh Long, quê hương của ông Vơ Văn Kiệt, lúc đó đang làm Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng tức là thủ tướng chính phủ. Trong cuộc tọa đàm khoa học vào tháng 8 năm 2003, ông Vơ Văn Kiệt mới tiết lộ thêm rằng hồi đó chính ông cũng có tham dự cuộc hội thảo vào năm 1994 tại Vĩnh Long.

Tuy Cụ Phan Thanh Giản là người tỉnh Bến Tre nhưng cho đến cuối thế kỷ thứ hai mươi th́ nhân dân tỉnh Vĩnh Long vẫn tôn thờ cụ như là một bậc đại anh hùng, dù rằng cụ đă uống thuốc độc quyên sinh từ năm 1867 và Cụ vẫn c̣n được nhân dân Vĩnh Long thờ phụng tại Văn Xương Các ở thành phố này. Không những tôn thờ cụ Phan Thanh Giản, nhân dân Vĩnh Long lại c̣n tôn thờ cả hai người con của cụ nưă. Trong cuốn “Khởi Nghiă Nam Kỳ ở Vĩnh Long,” ngay phần mở đầu có viết rằng “Năm 1867, Phan Tôn và Phan Liêm đứng lên lănh đạo phong trào kháng Pháp ở Vĩnh Long, Trà Vinh cùng các tỉnh Bến Tre, Sa Đéc…” [1]   Hai ông Phan Thanh Tôn và Phan Thanh Liêm là con trai của cụ Phan Thanh Giản.

Tuy nhiên sau cuộc hội thảo này th́ t́nh trạng vẫn như cũ, không có ǵ thay đổi cho đến năm 2003 th́ mới có một cuộc “tọa đàm khoa học”  được tổ chức một cách trọng thể tại Sài G̣n với nhiều nhân vật rất có tên tuổi tham dự.  

Nhật báo Tuổi Trẻ cho biết rằng “ngày 16 tháng 8 năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Xưa & Nay, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Đồng Khoa Học xă Hội Thành Phố Hồ Chí Minh đă phối hợp tổ chức tọa đàm khoa học “Thế Kỷ 21 Nh́n Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản.” Cuộc tọa đàm khoa học này là một cuộc trao đổi tiếp theo hai cuộc hội nghị tổ chức vào những năm trước cũng nhằm đánh giá về nhân vật Phan Thanh Giản.

“Tới dự cuộc tọa đàm có nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, sinh viên sử học…, nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt cũng có mặt suốt cuộc tọa đàm…

“Ư kiến đồng thuận chung là không thể coi Phan Thanh Giản là kẻ “bán nước.” Nhân cách của ông, cống hiến của ông cho đất nước đă chiếm được tấm ḷng ngưỡng mộ của nhân dân miền Nam…

“Đại biểu nhiều tỉnh như Vĩnh Long, Bến Tre… nêu nguyện vọng là Nhà Nước nên xem xét và cho phép đặt lại tên đường Phan Thanh Giản, trường học Phan Thanh Giản, sưả chưă bổ sung kiến thức về Phan Thanh Giản trong các sách giáo khoa, giáo tŕnh để đông đảo đồng bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn và đặt ông vào đúng vị trí trong lịch sử, trong đời sống văn hóa của nhân dân ta…

“Tiến sĩ Nguyễn Văn Khoan”

Giáo sư Văn Tạo, một sử gia thuộc Viện Sử học Hà Nội có đọc một bài nhận định, trong phần kết thúc ông đă đưa ra 5 điểm sau đây: “Khẳng định cụï Phan Thanh Giản là một người yêu nước, thương dân…; cụ Phan thanh Giản không có ư đồ phản bội quyền lợi dân tộc mà muốn bảo vệ quyền lợi dân tộc…; công lao xây dựng đất nước của cụ Phan thật đáng ca ngợi; cụ là một trong những nhà yêu nước đầu tiên có xu hướng canh tân và việc kư ḥa ước về 3 tỉnh miền Đông cũng như việc để mất 3 tỉnh miền Tây là sai lầm nhưng trách nhiệm về sai lầm đó là thuộc triều đ́nh Tự Đức, cụ chỉ là người thưà hành và liên đới chịu trách nhiệm…”

Nhân vật đáng chú ư nhất trong cuộc “tọa đàm  khoa học” này là ông Vơ Văn Kiệt, cựu Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản Việt Nam, cựu Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng…Tuy ông Vơ Văn Kiệt đă về hưu trí và năm nay đă 82 tuổi nhưng vẫn c̣n có rất nhiều ảnh hưởng trong giới lănh đạo ở trong nước, nhất là ở miền Nam, kể cả trong giới trí thức v́ vợ của ông Kiệt là Tiến sĩ Phan Lương Cầm, giáo sư Đại học Hà Nội và là con gái của ông Phan Tử Lăng, một nhân vật từng giữ chức vụ cao cấp nhất về quân sự trong chính phủ Trần Trọng Kim vào năm 1945.

Trong cuộc hội thảo này, ông Vơ Văn Kiệt đă đọc một bài nhận định dài 3 trang trong đó ông đă nói như sau:

“Tôi có được dự hai lần Hội thảo về Phan Thanh Giản. Với tôi, lần thứ hai này đă cho tôi sáng tỏ nhiều điều.

“Những ǵ mà tôi nghe được, đọc được từ những trang sử học, những ǵ mà tôi nghe được, biết được trong dư luận nhân dân, Phan Thanh Giản là người thương dân rất mực, trong sáng trong đời sống riên tư, cần kiệm, liêm chính, hết ḿnh trong công việc…Với tôi, đây là một tấm gương mà mỗi chúng ta nên suy nghĩ và học tập…”

Trong phần kết luận, ông Vơ Văn Kiệt nói rằng:

“Cuối cùng tôi cũng muốn nhắc lại câu nói như một tuyên ngôn của Phan Thanh Giản khi biết chắc 3 tỉnh miền Tây đă rơi vào tay giặc: Phan Thanh Giản không thể sống ở nơi mà lá cờ ba sắc phất phới bay!

“Với tuyên ngôn này và với những ǵ tôi đă tŕnh bày, tôi khẳng định rằng: Phan Thanh Giản là một người yêu nước, thương dân. V́ yêu nước, thương dân mà lo không tṛn bổ phận, cụ đă tự làm bản án cho chính ḿnh: đó là cái chết.

“Một cuộc đời thanh sạch, thật đáng để lại gương soi cho hậu thế.

“Sau cuộc tọa đàm tháng 8 năm 2003, tôi đă về thăm mộ Phan Thanh Giản và đốt nhang lạy hương hồn cụ. Và tôi cũng quyết định xây lại khu mộ phần và nhà thờ cụ bởi mộ cụ đă bị thời gian bào ṃn qúa nhiều.

“Một lần nưă tôi khẳng định Phan Thanh giản là người yêu nước, thương dân, một phẩm cách đáng kính trọng, một tấm gương để cho mọi thế hệ suy nghĩ…” [2]

Đúng 40 năm sau cuộc hội thảo lần thứ nhất tại Hà Nội để “kết tội” cụ Phan Thanh Giản, cuộc “toạ đàm khoa học” hay hội thảo về nhân vật Phan Thanh Giản lần thứ ba này đă cho thấy có sự tiến bộ rơ rệt, có sự thay đổi trong cái nh́n của các hội thảo viên và họ đă đều “nhất trí,” thực sự nhất trí, trong việc thưà nhận ḷng yêu nước thương dân của cụ Phan. Hai nhân vật đặc biệt là Giáo Sư Văn Tạo cũøng như ông  cựu Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt đă dùng tiếng “khẳng định,” có nghiă là không c̣n ǵ để phải bàn căi, thảo luận nưă, không thể nào chối căi được cụ Phan là một nhà ái quốc, một người yêu nước, thương dân…

Ông Sáu Dân tức là cựu Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt đă có hành động cụ thể trong lập trường này và ngày 15 tháng 8 năm 2003, ông đă hướng dẫn một phái đoàn mà người viết đếm được là 15 người (theo bức h́nh đăng trên báo Xưa & Nay) về thăm mộ cụ Phan Thanh Giản tại Ba Tri tỉnh Bến Tre. Ông Vơ Văn Kiệt nói rằng ông đă “đốt nhang lạy hương hồn cụ,” một việc hiếm thấy nơi một người Cộng sản cao cấp  và ông cũng c̣n hưá là sẽ “xây lại  khu mộ phần và nhà thờ cụ…”

Những tin tức người viết nghe được từ Việt Nam cho biết ông Vơ Văn Kiệt đă giữ đúng lời hưá đó v́ nghe nói trong một thời gian rất gần đây, một buổi lễ khánh thành mộ phần và nhà từ đường mới thờ cụ Phan Thanh Giản sẽ được tổ chức rất trọng thể tại Bến Tre với sự tham dự của đông đảo quan khách và đồng bào các tỉnh miền Tây.

Như vậy th́ một vài kết quả của cuộc tọa đàm khoa học “Thế Kỷ 21 Nh́n Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản” tại Sài G̣n ngày 16 tháng 8 năm 2003 đă được thể hiện qua lời hưá hẹn và những việc làm của ông Vơ Văn Kiệt, tuy nhiên, vẫn c̣n có một vài nguyện vọng khác chưa thấy được thực hiện. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Văn Khoan th́ trong cuộc hội thảo này, nhân dân miền Tây c̣n có đ̣i hỏi thêm một vài nguyện vọng khác: “đại biểu của nhiều tỉnh như Vĩnh Long, Bến Tre … nêu nguyện vọng là Nhà Nước nên xem xét và cho phép đặt lại tên đường Phan Thanh Giản, trường học Phan Thanh Giản, sưả chưả bổ sung kiến thức về Phan Thanh Giản trong các sách giáo khoa, giáo tŕnh để đông đảo đồng bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn và đặt Ông vào đúng vị trí trong lịch sử, trong đời sống văn hóa của nhân dân ta…”

                                      *                      *                     *

Một giải pháp có tính cách chính trị chỉ nhằm để giải quyết cho một nhu cầu chính trị. Nhu cầu chính trị bao giờ cũng chỉ có tính cách giai đọan và đoản kỳ chứ không trường cửu trong chiều dài lịch sử của dân tộc.

V́ nhu cầu chính trị cho nên ngay từ tháng 5 năm 1975 “chúng ta đổi tên đường Phan Thanh Giản ở Thành phố Hồ Chí Minh thành đường Điện Biên Phủ và một số nơi, có người đề nghị xoá bỏ hay hạn chế bớt việc duy tŕ và tu tạo những di tích lịch sử về Phan Thanh Giản.”

V́ nhu cầu chính trị này nên năm 1975, Ủy Ban Khoa Học Xă Hội của Đảng Lao Động dưới quyền chỉ đạo của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ đă phái hai nhà trí thức của Đảng là Giáo sư  Nguyễn Công B́nh và Giáo sư Nguyễn Đổng Chi vào Sài G̣n với nhiệm vụ xóa tên cụ Phan Thanh Giản trên toàn thể lănh thổ miền Nam Việt Nam.

Lê Duẩn và Lê Đức Thọ không c̣n nữa.

Nhu cầu chính trị quá khích của họï thời thập niên những năm 1960 cũng không c̣n nưă.

Cho đến chừng nào nguyện vọng của nhân dân các tỉnh miền Tây trong cuộc tọa đàm khoa học “Thế Kỷ 21 nh́n Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản” mới được thực hiện?

Cho đến chừng nào người dân Miền Nam mới được nh́n thấy những con đường, những trường học được mang lại những tên cũ của các vị anh hùng dân tộc của một thời xưa cũ, trong đó có cảù tên Cụ Phan Thanh Giản, một trong hai vị anh hùng của xứ Nam Kỳ vào thời thế kỷ thứ 19 mà cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu đă ca ngợi:

“Phải trời cho mượn cán quyền phá lỗ,

Trương Tướng Quân c̣n cuộc nghiă binh,

“Ít người đặng xem tấm bảng phong thần,

Phan Học Sĩ hết ḷng mưu quốc”?

Trần Đông Phong

California, Mùa Xuân 2004


[1] Nguyeăn Vaên Traán: “Vieát Cho Meï vaø Quoác Hoäi,” Vaên Ngheä, California

[2] Vơ Văn Kiệt: “Những Suy Nghĩ Sau Hai Cuộc Hội Nghị về nhân vật Phan Thanh Giản, Tạp chí Xưa & Nay, Sài G̣n, số 146, tháng 8 năm 2003.