Thử Đi T́m Nguyên Nhân
Cụ
Phan Thanh Giản
Bị
Người cộng sản
Cực Đoan kết Tội
Trần Đông Phong
BBT: Trần Đông Phong
là bút hiệu của một cựu giáo sư Anh văn từng
dạy ở Bến Tre và Cần Thơ cuối thập
niên 1950. Trước 1975, ngoài việc đi dạy học,
ông c̣n là sĩ quan trong QLVNCH, làm báo và chuyên viên về
bang giao quốc tế.
Là người miền Bắc nhưng thích nghiên cứu
về phong tục, tập quán của xă hội miền
Nam nên trong thời dạy học ông thường đi sâu
vào các vùng thôn quê ở Kiến Ḥa, Mỹ Tho, Cần Thơ…
để t́m hiểu. Nhờ đó ông có được
giao t́nh với một số thân hào, nhân sĩ địa
phương. Những bài nghiên cứu về lịch sử,
chính trị, văn hóa xă hội của ông thường
xuất hiện trên các báo vùng Orange County, miền Nam
California, là nơi ông đang cư ngụ. Ông đang
trong giai đoạn hoàn tất tác phẩm về một
nhân vật điển h́nh của miền Nam Việt Nam
cùng những biến động lịch sử, chính trị,
văn hóa xă hội từ năm 1945 đến 1975. Tập
biên khảo này có thể sẽ được xuạát
bản trong năm 2004.
|
N |
gay
sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhiều người ở miền
Nam Việt Nam đều ngạc nhiên khi thấy một
trong những người đầu tiên ở miền Nam
đă bị những người Cộng sản chiến
thắng đánh phá một cách vô cùng hăng say, một
cách vô cùng không thương tiếc, lại không phải
là những người đă từng lănh đạo quốc
gia Việt Nam Cộng Ḥa chống lại Cộng sản
Hà Nội như Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm hay Tổng
Thống Nguyễn Văn Thiệu, mà là một nhân vật
miền Nam đă tạ thế hơn một thế kỷ
trước, đó là Cụ Phan Thanh Giản.
Ngay vào đầu tháng 5 năm 1975, tất cả những
con đường mang tên Cụ Phan Thanh Giản ở
trên khắp 55 đô,ï tỉnh và thị xă ở Miền
Nam Việt Nam đều bị chính quyền Cộng sản
hủy bỏ và thay thế bằng những tên mới.
Ngôi trường trung học lớn nhất ở miền
Tây đă được mang tên cụ Phan Thanh Giản từ
trước năm 1945 cũng bị đổi tên ngay lập
tức và thay thế bằng tên của một cán bộ
Cộng sản mà đa số mọi người dân khắp
Nam Kỳ Lục Tỉnh không hề được biết,
ngôi tượng của Cụ Phan Thanh Giản được
nhân dân Cần Thơ và học sinh trường Trung Học
Phan Thanh Giản dựng lên vào đầu thập niên
1970 tại sân cờ của trường này cũng bị
cán bộ Cộng sản đập phá tan tành ngay vào những
ngày đầu họ mới tiếp thu thành phố Cần
Thơ.
Cụ
Phan Thanh Giản đă có tội ǵ mà lại bị những
người Cộng sản chỉ đáng tuổi cháu chắt
của Cụ hận thù đến như vậy?
Trong
bài này người viết không có tham vọng cũng
như là không có đủ khả năng để t́m
hiểu nguyên nhân rơ rệt tại sao những người
Cộng sản lại kết tội cụ Phan Thanh Giản,
tuy nhiên người viết cũng cố gắng t́m kiếm
một số tài liệu để t́m hiểu thêm về
những sự kiện có liên hệ đến quyết
định này.
Trần Huy Liệu
và “Bài Kết Luận” Trong Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch
Sử
Theo
Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ Tịch Hội Khoa Học Lịch
Sử Việt Nam, giáo sư Sử Học thuộc trường
Đại học Quốc Gia Hà Nội, th́ Tạp Chí
Nghiên Cứu Lịch Sử số 55 xuất bản tại
Hà Nội vào tháng 10 năm 1963 đă “công bố bài kết luận của Giáo sư Trần Huy Liệu dưới
tiêu đề: “Chúng Ta Đă Nhất Trí Về Việc
Nhận Định Phan Thanh
Giản.” Quan điểm chung của bài kết luận
là lên án Phan Thanh Giản: “Phan trước sau vẫn
rơi vào thất bại chủ nghiă, phản lại nguyện
vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc,
cuả nhân dân,” là phạm tội “dâng thành hiến
đất cho giặc” và từ đó phủ nhận tất
cả “tứ đức” của ông như “đức
tính liêm khiết,” “ḷng yêu nước,” “thương
dân”…v́ công đức đă bại hoại th́ tư
đức c̣n có ǵ đáng kể.”
Theo
Tiến sĩ Phan Thị Minh Lễâ, người viết
nghe nói bà cũng là hậu duệ của Cụ Phan Thanh
Giản, th́ “vào năm 1963, chính phủ Hà Nội mở
một chiến dịch tuyên
truyền nhằm chống lại chính phủ Sài G̣n và
“Đế quốc Mỹ” với khẩu hiệu sau
đây: “Đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn
diện, đánh thắng hoàn toàn cuộc chiến tranh
đặc biệt của đế quốc Mỹ.”
“Tất
cả mọi phương tiện đều có lợi
cho việc đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền
này. Dường như giáo
sư Trần Huy Liệu, một vị giáo sư đại
học nổi tiếng và là một nhà sử học
nghiêm chỉnh đă không ngần ngại dùng nhân vật
Phan Thanh Giản để bôi xấu cái thái độ
khuất phục trước sức mạnh của
người ngoại quốc. Vào năm 1867, đó là người
Pháp và vào năm 1963 th́ lại là người Mỹ…”
Cũng
theo Tiến sĩ Phan Thị Minh Lễâ th́ tuy Trần Huy
Liệu nói rằng “chúng
ta nhất trí về việc nhận định Phan Thanh
Giản” nhưng cũng trong tạp chí Nghiên cứu Lịch
Sử số 55 này, Trần Huy Liệu đă thú nhận
rằng “trong cuộc thảo
luận này, chúng ta đă gần như “giật ḿnh v́
nổi giận” (choqué) v́ lập trường của
hai đồng chí Chương Thâu và Đặng Huy Vân,
lập trường không ai mong đợi v́ hai đồng
chí này vẫn chưa bỏ được cảm t́nh của
họ dành cho Phan Thanh Giản, do đó họ đă trở
thành đối tượng của sự phản đối
và đă gây ra một loạt chỉ trích…”
Giáo
sư Văn Tạo, cựu Giám đốc Viện Sử
Học Hà Nội đă cho biết rằng “vào những
năm 1962-1963, trong cuộc thảo luận trên Tạp
chí Nghiên Cứu Lịch sử
và trong hội thảo khoa học ở Viện Sử Học,
có nhiều ư kiến khác nhau. Thậm chí sau lời tổng
kết hội thảo của Giáo sư Trần Huy Liệu,
nguyên Viện Trưởng Viện Sử Học, với
đầu đề “Chúng Ta Nhất Trí về Việc
Nhận Định về Phan Thanh Giản” th́ ngay sau
đó, Giáo sư Ca Văn Thỉnh, nguyên Giám Đốc
Thư Viện Khoa Học Xội,
cũng đă nói lên t́nh cảm chân thành của
ḿnh: “Về mặt khoa học, các đồng chí nhận
định như vậy là có lư, nhưng về mặt
t́nh cảm, trí thức, Lục Tỉnh chúng tôi vẫn
có nhiều băn khoăn, thấy không muốn hạ thấp
Phan Thanh Giản xuống đến như thế…”
Như
vậy th́ việc kết án cụ Phan Thanh Giản không
có “nhất trí” như Trần Huy Liệu viết v́
ngoài Giáo sư Ca Văn
Thỉnh, hai ông Chương Thâu và Đặng Huy Vân, cũng
là đảng viên Cộng Sản v́ Trần Huy Liệu gọi
là “đồng chí,” đă có viết một bài nhan
đề “Phan Thanh Giản
trong Lịch sử Cận đại Việt Nam”
đăng trên tạp chí Nghiên Cứu Lịch Sử số
48 vào tháng 3 năm 1963 trong đó hai nhân vật này c̣n
bênh vực cho cụ Phan Thanh Giản.
Người
viết không có cơ hội được đọc bài
này của hai ông Chương Thâu và Đặng Huy Vân cũng
như là bài của Trần Huy Liệu, tuy nhiên nhưng
theo nhiều nguồn tin từ miền Bắc th́ đại
khái trong Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử số
tháng 10 năm 1963, Trần Huy Liệu đă quy trách nhiệm
cho Cụ Phan Thanh Giản trong việc kư hoà ước
năm Nhâm Tuất 1862 nhượng 3 tỉnh miền
Đông cho người Pháp rồi sau đó lại để
cho mất 3 tỉnh miền Tây vào năm 1867 và kết tội
cụ Phan Thanh Giản đă “dâng thành hiến đất
cho giặc, phản lại quyền lợi tối cao của
dân tộc, của nhân dân…”
Đối với người Cộng sản, một khi
bị kết tội là “phản bội quyền lợi
tối cao của dân tộc, của nhân dân” th́ đó
là tội “phản quốc” và một người mang
tội như vậy th́ không xứng đáng
được xem như là một vị anh hùng dân tộc
đáng được tôn thờ như tại miền
Nam hồi đó.
Trần
Huy Liệu là người như thế nào mà bài kết
tội cụ Phan Thanh Giản của ông vào năm 1963 lại
có ảnh hưởng tại miền Nam 12 năm sau đó?
Trần
Huy Liệu là một nhân vật rất nổi tiếng
và có nhiều uy quyền ở miền Bắc, nhất
là trong lănh vực văn hóa cho đến khi ông chết
vào năm 1969.
Năm
1924, Trần Huy Liệu đă từ Hà Nội vào Nam Kỳ
để cộng tác với nhiều tờ báo ở Sài
G̣n như “Nông Cổ Mín Đàm,” “Ng̣i Bút Sắt,”
làm chủ bút các tờ “Đông Pháp Thời báo,” “Pháp
Việt Nhất Gia” v.v. Ông có tham gia phong trào đ̣i hỏi
người Pháp phải phóng thích Cụ Phan Bội Châu,
phong trào truy điệu Cụ Phan Chu Trinh và bị Pháp bắt
vào năm 1927. Sau khi ra khỏi tù, ông gia nhập Việt
Nam Quốc Dân Đảng vào năm 1928 rồi lại bị
người Pháp bắt vào năm 1929 và đày ra Côn
Đảo cho đến năm 1935. Trong thời gian bị
tù ở Côn Đảo, ông chịu ảnh hưởng của
các tù nhân Cộng sản, do đó, sau khi dược phóng
thích vào năm 1935, ông về hoạt động tại
Hà Nội và chính thức gia nhập đảng Cộng
sản Đông Dương vào năm 1936. Trong thời gian
này, ông chủ trương những tờ báo thân Cộng
sản như Đời Mới, Thời Báo, Tin Tức,
Đời Nay rồi lại bị Pháp bắt vào năm
1939, sau đó bị đày lên Sơn La. Tại nhà tù
này, thực dân Pháp cũng đang giam giữ nhiều
đảng viên Cộng sản khác trong đó có những
người sau này nổi tiếng như Lê Duẩn, Lê
Đức Thọ v.v. Tháng 3 năm 1945, nhân cơ hội
người Nhật đảo chính người Pháp, ông
vượt ngục rồi về chiến khu Tân Trào.
Trong “Quốc Dân Đại Hội” họp tại Tân
Trào ngày 8 tháng 7 năm 1945, Trần Huy Liệu được
bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Dân tộc Giải
phóng, chỉ đứng sau Hồ Chí Minh nhưng lại
trên cả Vơ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng và Chu
Văn Tấn…
Ngày
29 tháng 8 năm 1945, Trần Huy Liệu được giữ
chức Bộ trưởng Tuyên Truyền trong Chính phủ
Lâm Thời của Hồ Chí Minh và đă cầm đầu
một phái đoàn của Việt Minh vào Huế để
nhận ấn tín và sự thoái vị của Vua Bảo
Đại. Trong những năm sau đó, Trần Huy Liệu
được giữ những chức vụ quan trọng
khác trong Tổng Bộ Việt Minh, Tổng Cục Chính
Trị Quân Đội và Thường trực Quốc Hội.
Sau
năm 1954, Trần Huy Liệu được giữ những
chức vụ quan trọng trong lănh vực văn hóa như
làm Trưởng Ban Nghiên cứu Văn-Sử-Địa,
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xă hội Việt
Nam, Viện trưởng Viện Sử học, Hội
trưởng Hội Khoa Học Lịch sử Việt Nam
cho đến khi mất vào năm 1969.
Đó
là con người Trần Huy Liệu, một nhân vật
có rất nhiều ảnh hưởng trong các lănh vực
chính trị, văn hoá và nhất là lịch sử v́
vào đầu thập niên 1960, ông đang giữ chức
vụ Viện trưởng Viện Sử Học.
Cán
Binh Nam Bộ Tập Kết Làm Loạn Tại Bắc Việt
Vào
năm 1963, trong khi t́nh h́nh kinh tế miền Bắc
đang gặp phải nhiều khó khăn v́ nạn hạn
hán, trong khi đảng Cộng sản Việt Nam đang
bị chia rẽ trầm trọng v́ sự xung đột
về ư thức hệ rất trầm trọng giưă
hai nước Cộng sản đàn anh là Liên Xô và Trung
Hoa Cộng sản, trong khi t́nh h́nh chiến sự tại
miền Nam đang trở nên sôi động, câu hỏi
được đặt ra là tại sao cũng đúng
vào thời gian đó, đảng Cộng sản Việt
Nam, qua giáo sư Trần Huy Liệu, lại cho mở nhiều
cuộc hội thảo để chỉ trích, để
đánh phá, để bôi nhọ và “hạ bệ” một
vị danh nhân miền Nam đă từ trần từ năm
1867 tức là đă gần 100 năm về trước?
Trong
bài này, người viết sẽ chỉ phân tích một
số sự kiện đă xảy ra tại miền Bắc
vào năm 1963 để thử t́m hiểu nguyên nhân tại
sao Giáo sư Trần Huy Liệu lại bỏ nhiều th́
giờ, công sức và ảnh hưởng để làm
việc này, ông ta tự ư hay là đă nhận được
lệnh của những người khác cao cấp hơn
ông để mở chiến dịch “hạ bệ” cụ
Phan Thanh Giản và với mục đích ǵ?
Những
người miềân Nam bị tập kết ra Bắc Việt
vào năm 1954 và 1955 đều được Đảng
hứa hẹn rằng sau hai năm, tức là đến
tháng 7 năm 1956, th́ sẽ có cuộc bầu cử theo
Hiệp Định Genève và họ sẽ được
trở về Nam Bộ. Nhưng sau tháng 7 năm 1956 th́ cũng
chẳng thấy bầu cử diễn ra và đến Tết
năm 1957 th́ rất đông đảo người miền
Nam tập kết đă vô cùng thất vọng, vô cùng bất
măn và họ đă có những thái độ và hành
động rất tiêu cực đối với Đảng
và Nhà Nước, có nơi đă xảy ra những cuộc
chống đối, nổi loạn và Nhà Nước
đă phải sử dụng đến vơ lực để
dẹp tan những vụ nổi loạn này.
Nhà
văn Xuân Vũ, một người miền Nam tập kết
ra Bắc vào năm 1954- 1955 và đă sống ở miền
Bắc trong hơn 10 năm trước khi “đi B” tức
là lên đường vào “giải phóng miền Nam,”
tuy nhiên khi vào đến miền Nam th́ ông rời bỏ
hàng ngũ Cộng sản và đă sáng tác rất nhiều
tác phẩm lột trần bộ mặt thật của
chế độ Cộng sản Hà Nội. Trong cuốn
“Cách Mạng Tháng 8, Cha Đẻ của C̣ng Số 8,”
ông Xuân Vũ có cho biết về t́nh h́nh những người
Nam Bộ tập kết tại miền Bắc như sau:
“Thời
năm 1956-1958, xă hội miền Bắc như một chảo
dầu sôi, nơi th́ dân Nam Bộ
tập kết bất măn bỏ cơ quan đi, nơi th́
thương binh Nam Bộ nổi dậy đánh chính quyền,
chỗ th́ học sinh miền Nam đụng súng với
du kích, cán bộ địa phương. Có cả một
đoàn sĩ quan Nam Bộ điều dưỡng tại
Sầm Sơn kéo nhau về Nam, một anh hùng quân đội,
Nguyễn Văn Song, trốn đi về Nam đơn vị
không t́m lại được…Trong khi đó th́ trung tá
Phan Thanh Nhàn, người Bến Tre, bị hạ ngục
v́ mắc tội “Ban Chữa Cháy Trung Ương” để
ứng phó với t́nh thế. Có nghiă là nơi nào nổi
dậy, làm loạn th́ ban chưă cháy phải đến,
cái Ban đó có Nguyễn Trấn đứng một chân
v́ ông ta là bậc trưởng thượng của dân
Nam Kỳ nên tiếng nói của ông ta có tác dụng của
những trận mưa dội xuống những đám
cháy mới bốc.. ”
…“Những
tên Nam Kỳ suốt 9 năm thờ lạy hung thần
hang Pắc-Pó, bây giờ ra
đất Bắc mới hiểu cái thắng lợi
Điện Biên Phủ là cái…ǵ. Nhiều tên thối
chí chửi quá sức tưởng tượng và chui xuống
tàu “Arkhangels” hoặc “Starvoropol”
[1]
để trở về Nam sau khi đặt chân lên
đất Bắc chỉ có một ngày.
Nổi
tiếng nhất hồi đó là “vụ Ninh B́nh”: một
số cán binh Nam Bộ tập kết v́ bị cán bộ
địa phương đối xử bất công nên
đă nổi loạn, bắt giữ bí thư tỉnh
ủy, chủ tịch tỉnh và trưởng ty Công an
Ninh B́nh làm con tin. Cộng sản Hà Nội phải cho triệu
Tướng Tô Kư về để giàn xếp.
Trước năm 1954, Tô Kư là sư trưởng
kiêm chính ủy Sư đoàn 330 ở Nam Bộ, khi tập
kết ra Bắc được phong quân hàm thiếu tướng
rồi được bổ nhiệm làm Chính ủy Quân
Khu Tả Ngạn. Tô Kư là người được các
anh em bộ đội tập kết thương yêu và
kính trọng v́ ông ta đối xử với đàn em rất
b́nh dân như người Nam Kỳ, ông thường ra lệnh
cho lính tráng gọi ông là “anh
Ba” thay v́ thiếu tướng như những người
khác.
Khi
Tô Kư đến Ninh B́nh, ông đến gặp những
người “nổi loạn” và thuyết phục họ
ra đầu hàng, ông cũng hưá hẹn là nhà nước
sẽ khoan hồng và sẽ cứu xét những điều
khiếu nại của họ. Trong khi những người
Nam Bộ tập kết này đang tập họp để
chờ đợi “anh ba Tô Kư” điều đ́nh với
Đảng ở Hà Nội th́ Tướng Phùng Thế
Tài, Tổng Tham mưu Phó kiêm Tư Lệnh Pḥng không của
Không Quân Bắc Việt, một viên tướng
được mệnh danh là “tướng cao bồi”
của quân đội miền Bắc, đến Ninh B́nh
và đă ra lệnh cho bộ đội của ông ta mang
tất cả những người miền Nam tập kết
ra bắn bỏ tại bờ sông Đoan Vỹ tại Phủ
Lư. Tướng Tô Kư đă nổi giận về việc
giết người của Phùng Thế Tài và đă kiện
lên Bộ Chính Trị về vụ sát nhân này nhưng Bộ
Chính Trị lại ra mặt bênh vực Phùng Thế Tài,
một người thân tín của Hồ Chí Minh, và cho rằng
đó là một hành động chính đáng để
đối phó với những “phần tử vô kỷ
luật.” Sau vụ này, đa số dân Nam Bộ tập
kết đều vô cùng bất măn và chính quyền Hà Nội
phải ra lệnh cho đưa họ đi lên những nơi
xa xôi trên vùng mạn ngược.
Lê Duẩn
Được Chỉ Định Làm Bí Thư Thứ Nhất
Đảng Lao Động Việt Nam
Trong
bối cảnh đó, chiến dịch “Cải Cách Ruộng
Đất” đă làm cho nông dân miền Bắc phẩn
nộ và chống đối khắp nơi khiến cho Hồ
Chí Minh phải đứng ra xin lỗi, sửa sai bằng
cách hạ bệ Tổng Bí thư đảng Cộng sản
là Trường Chinh và ông Hồ kiêm nhiệm luôn chức
vụ này.
Như
vậy, vào thời gian đó, Hồ Chí Minh giữ những
chức vụ sau đây: Chủ Tịch Đảng Lao
Động, Tổng Bí Thư Đảng Lao Động,
Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Ḥa và Chủ Tịch Quân Ủy Hội. Đó là những
chức vụ quan trọng hàng đầu trong hai guồng
máy đảng và nhà nước mà ông Hồ Chí Minh th́
đă 70 tuổi rồi, bên phiá chính phủ th́ đă
có Phạm Văn Đồng là người thân tín của
ông giữ chức vụ thủ tướng, c̣n bên
đảng th́ cũng cần có một người trẻ
tuổi để lo việc điều hành bộ máy của
đảng. Lúc bấy giờ, sau khi Trường Chinh bị
mất chức, người được đảng viên
và quân đội ủng hộ mạnh mẽ nhất là
Đại Tướng Vơ Nguyên Giáp. Ông Vơ Nguyên Giáp là
một người trí thức, đă từng làm giáo sư
trước khi gia nhập đảng Cộng sản rồi
trở thành đại tướng, ủy viên Bộ
Chính Trị, bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng,
được báo chí thế giới ca ngợi là “anh
hùng Điện Biên Phủ”…Đối với quần
chúng trong nước cũng như là các nhà quan sát quốc
tế thời đó, ai cũng nghĩ rằng người
sẽ được Hồ Chí Minh chọn làm Bí thư
cho Đảng Lao Động Việt Nam phải là Vơ
Nguyên Giáp và tất cả mọi người đều
ngạc nhiên khi Hồ Chí Minh công bố việc Lê Duẩn
được chọn làm Bí Thư Thứ Nhất cho
Đảng Lao Động vào năm 1960.
Lê
Duẩn người gốc phủ Triệu Phong tỉnh
Quảng Trị, tŕnh độ văn hoá chỉ có bằng
“certificat” (tiểu học,) làm công nhân bẻ ghi cho sở
Hỏa xa, gia nhập đảng Cộng sản từ
năm 1930 và bị Pháp bắt bỏ tù từ năm 1931
đến 1936 tại Sơn La. Sau đó dến năm
1940 lại bị tù lần nưă và bị đày đi
Côn Đảo cho đến năm 1945. Sau năm 1945, Lê
Duẩn phục vụ tại Nam Bộ với chức vụ
khiêm nhường là “Trưởng Pḥng Dân Quân Nam Bộ” nhưng sau khi Tướng
Nguyễn B́nh bị Pháp phục kích bắn chết,
Lê Duẩn trở thành Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ
và người phụ tá cho Lê Duẩn là Lê Đức
Thọ, ủy viên Ban Thường vụ Trung Ương
Đảng.
Đối
với giới lănh đạo cũng như các đảng
viên Cộng sản lăo thành tại miền Bắc, Lê Duẩn
chỉ là một kẻ vô danh v́ bị ở tù trên 10 năm
rồi sau đó chỉ hoạt động nhiều
năm tại Nam Bộ, Lê Duẩn không có tŕnh độ
văn hóa, không có hậu
thuẫn cũng như sự ủng hộ của ai
ở miền Bắc, tuy nhiên Lê Duẩn lại được
chỉ định vào chức vụ Bí Thư Thứ Nhất,
đánh bại ông giáo sư Sử học, đại
tướng Vơ Nguyên Giáp, người được ông
Hồ Chí Minh rất thương yêu từ hồi c̣n
ở Trung Hoa và đă được ông Hồ ưu ái
đặt tên là “đồng chí Văn” từ ngày
c̣n ở Tân Trào.
Ông
Hồ Chí Minh tuyên bố rằng chọn Lê Duẩn làm
Bí Thư Thứ Nhất là tại v́ đồng chí Lê
Duẩn đại diện cho Nam Bộ, “Nam Bộ là
thành đồng tổ quốc” và “Miền Nam luôn
luôn ở trong tim tôi,” tuy nhiên về sau th́ những nhà
phân tích mới thấy rơ cái thâm ư của Hồ Chí
Minh: ông Hồ “sợ” một người có tài và có
uy tín như Vơ Nguyên Giáp v́ một khi Vơ Nguyên Giáp có quyền
hành trong tay th́ họ Vơ có thể sẽ có uy tín hơn
cả Hồ Chí Minh và có thể lật đổ họ
Hồ, trong khi đó chọn một người ít học,
không có ảnh hưởng và hậu thuẩn ǵ ở miền
Bắc như Lê Duẩn th́ sẽ không bao giờ dám phản
lại Hồ Chí Minh.
Hồ
Chí Minh đă phạm một lỗi lầm vô cùng tai hại
cho ông ta v́ chỉ trong ṿng có 3 năm, với sự trợ
giúp của người đồng chí từ miền Nam
là Lê Đức Thọ trong cương vị Trưởng
Ban Tổ Chức Đảng, Lê Duẩn và Lê Đức
Thọ đă thu tóm trọn quyền lực và Hồ Chí
Minh bị hai “đồng chí họ Lê” tước hết
mọi quyền hành, chỉ c̣n “ngồi chơi xơi
nước” từ cuối năm 1963. Theo nhà văn
Vũ Thư Hiên th́ ông Hồ bị mất quyền lực
vào khoảng trước năm 1965, sau khi ông Ngô Đ́nh
Diệm bị giết:
“Năm
1965, trong một cuộc nói chuyện với cán bộ
tuyên giáo ở Hưng Yên, Trưởng
Ban Tuyên Giáo Trung Ương Tố Hữu nói: “Ông Cụ
“lẫn cẩn” (có lẽ là “lẩm cẩm” theo tiếng
miền Nam) rồi, mọi việc bây giờ đều
do anh Ba (Lê Duẩn) và tụi tôi giải quyết.”
[1]
Giới Trí Thức
Nam Bộ Coi Thường Lê Duẩn
Trong
thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Việt Minh chia
nước Việt Nam
thành 9 khu và Nam Bộ được chia thành 3 khu: vùng miền
Đông được gọi là Khu 7, vùng ở giưă
hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang được gọi
là Khu 8 và vùng từ sông Hậu giang về tận Cà Mau
được gọi là Khu 9. Lê Duẩn là người
gốc Trung Kỳ cùng với Lê Đức Thọ gốc
Bắc Kỳ nắm quyền chỉ huy của cả Nam
Bộ, tuy nhiên một số người Nam Kỳ vẫn
c̣n được giao cho quyền chỉ huy một vài
vùng như Nguyễn Văn Trấn được làm tư
lệnh kiêm chính ủy khu 8, Huỳnh Văn Nghệ
được làm tư lệnh Khu 7
v.v.
Trong
thời kỳ trước năm 1945, số đảng
viên Cộng sản được huấn luyện tại
Liên Xô, Trung Quốc rất là hiếm hoi, có thể nói
là chỉ được đếm trên đầu ngón
tay, đại đa số đảng viên Đảng Cộng
sản Đông Dương đều được huấn
luyện ở trong nước, đa số là trong những
nhà tù của thực dân Pháp và tŕnh độ văn hóa
cũng như chính trị cuả nhóm này th́ rất tầm
thường, chẳng có ǵ đáng kể. Tuy nhiên có một
số đảng viên Cộng sản rất trí thức,
rất có học, ngay cả về chủ thuyết Cộng
sản, họ cũngï học c̣n cao hơn cả Hồ
Chí Minh, hơn cả Vơ Nguyên Giáp, hơn cả Phạm
Văn Đồng, hơn cả Trường Chinh v.v.,
đa số những đảng viên này là những người
đă từng du học ở Pháp, có người là
đảng viên của đảng Cộng sản Pháp chứ
không phải đảng Cộng sản Đông Dương
và gần như hầu hết những người này
đều là người…Nam Bộ. Trong tổng số
20 đảng viên Cộng sản người Việt Nam
được đào tạo tại Trường Lao
Động Đông Phương ở Liên Xô, vào thập
niên 1960 chỉ có 5 người c̣n sống sót, ngoài Nguyễn
Khánh Toàn là người Huế, 4 người c̣n lại
đều là gốc Nam Bộ: đó là Bùi Công Trừng,
Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Trấn và Trần
Văn Giàu.
Ngay
từ thời kháng chiến chống Pháp cho đến
sau khi tập kết ra Bắc, đám trí thức này vẫn
coi thường Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và đám
tay chân của họ cho nên sau khi hai người này nắm
được quyền hành th́ họ bắt đầu
có những âm mưu triệt hạ ảnh hưởng của
đám đảng viên người Nam Bộ trí thức
này và cơ hội đă đến khi Đảng Cộng
sản họp Hôị Nghị Ban Chấp Hành Trung
Ương Lần Thứ 9, gọi tắt là Hội nghị
9 vào tháng 12 năm 1963 để thảo luận về vấn
đề lập trường của Đảng lao Động
Việt Nam trước cuộc tranh chấp giưă hai nước
đàn anh là Liên Xô và Trung Quốc.
Nạn
nhân đầu tiên là Dương Bạch Mai, cựu học
viên trường Lao Động Đông Phương tức
là trường Staline ở Mạc Tư Khoa.
Dương
Bạch Mai là người gốc Bà Rịa, gia nhập
đảng Cộng sản Pháp thời c̣n rất trẻ,
ông sang Liên Xô theo học trường Lao Động
Đông Phương trong 2 năm 1930-1931 rồi sang học
ở Paris khoảng 1936,
1937. Ông ra ứng cử và đắc cử vào Hội
Đồng Thành phố Sài G̣n năm 1937 rồi bị Pháp
bắt giam vào năm 1940. Năm 1945, Dương Bạch
Mai giữ chức Thanh Tra Chính trị Miền Đông
kiêm Tổng Giám Đốc Công An trong Lâm Ủy Hành
Chánh của Trần Văn Giàu và trong chức vụ này,
Dương Bạch Mai là người chịu trách nhiệm
về việc hàng chục ngàn người bị Công an
Việt Minh thủ tiêu vào năm 1945. Năm 1946.
Dương Bạch Mai đắc cử vào quốc hội
rồi đi theo kháng chiến và vào đầu thập
niên 1960 được giữ chức Ủy viên Ban Thường
vụ Quốc Hội và Phó Chủ tịch Hội Việt-Xô
Hữu Nghị. Con trai của ông Vũ Đ́nh Huỳnh,
bí thư của chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm
1945, là nhà văn Vũ Thư Hiên cho biết về ông Dương
Bạch Mai như sau:
“Ông
Dương Bạch Mai nói với tôi rằng ông không
được ḷng Hồ Chí
Minh. Dương Bạch Mai có cái tật sống quá thẳng.
Ông ngang tàng, không chịu g̣ ḿnh vào tôn ti trật tự
phong kiến, ông bạt mạng trong lời ăn tiếng
nói. Đă quen với những lời tâng bốc, xưng
tụng, ông Hồ Chí Minh có không ưa ông cũng phải.
“Trường
Chinh cũng không ưa Dương Bạch Mai. Điều
này không khó hiểu. Trong Trường Chinh có mặc cảm
của kẻ ngă ngưạ. Sau sai lầm Cải cách Ruộng
đất ông đinh ninh ai cũng coi thường ḿnh. Dương
Bạch Mai phản đối Nghị quyết 9 th́ Trường
Chinh lại coi ông phản đối ḿnh.
“Lê
Duẩn đặc biệt không ưa Dương Bạch
Mai. Theo nhận định của những người từ
Nam Bộ ra Bắc tập kết th́ sự không ưa này
không phải v́ nguyên do chính trị. Cái chính là là Lê Duẩn
biết ḿnh chẳng bao giờ có được cái mà Dương
Bạch Mai có-sự nổi tiếng với tư cách một
thủ lĩnh có trí tuệ. Dương Bạch Mai nói với
tôi về Lê Duẩn: “cháu để ư tới cái thằng
cha ấy làm chi! Tâm trí bậc nam nhi là để cho sự
nghiệp, thằng này th́ thời chỉ lo kiếm chác
vinh quang và quyền lực, lúc nào cũng nơm nớp sợ
người khác hơn ḿnh. Sự nghiệp và vinh quang
là hai thứ khác nhau, như ngôi nhà với nước vôi
phủ bên ngoài nó, cháu à!”
Dương
Bạch Mai, nếu c̣n sống, chắc sẽ chịu
chung số phận với chúng tôi (ghi chú: Vũ Thư Hiên
và thân phụ là Vũ Đ́nh Huỳnh đều bị
Lê Duẩn và Lê Đức Thọ giam ở nhà tù Hỏa
Ḷ trong bảy tám năm trời mà không hề bị
đưa ra toà xét xử.) Không phải chắc, mà chắc
chắn. Từ khi có cuộc đấu tranh giưă hai
đường lối (giưă Liên Xô và Trung Cộng)
ông chống lại việc đưa nước Việt
Nam vào quỹ đạo chủ nghiă Mao. Ông gọi chủ
nghiă Mao là món “tạp-pí-lù của thổ phỉ.” Giưă
lúc ngành tuyên truyền Việt Nam đưa Mao Trạch
Đông lên hàng thánh sống th́ ông ngang nhiên gọi Mao
là tên đao phủ của đại pháp trường
Trung Quốc…”
“Những
nhận định ngược đời của
Dương Bạch Mai làm cho các nhà lănh đạo Việt
Nam hết hồn. Sở dĩ ông chưa bị đụng
tới là v́ ông có danh tiếng, có uy tín lớn trong quần
chúng.
“Dương
Bạch Mai qua đời khi ông là ủy viên Ban Thường
vụ Quốc Hội. Với Nghị quyết 9, đảng
Cộng sản Việt Nam phân hoá thành hai cực-một
bên là những người chủ nghiă xă hội dân chủ
pháp trị, đ̣i kiến tạo một xă hộ công
dân có nhân quyền, bên kia là Đảng cầm quyền
kiên tŕ một chủ nghiă xă hội chuyên chế. Đó
là những ngày không thể nào quên. Dương Bạch
Mai, con hổ dữ chống lại đường lối
thân Trung Quốc đột tử khi ông đang dự cuộc
họp quốc hội tại Nhà Hát Lớn Hà Nội.
Vào lúc giải lao, các đại biểu kéo nhau đi uống
bia ở bar, ông Mai thết trước các bạn một
chầu bia mừng sinh nhật của ông ngày hôm sau. Ông
ngă xuống. Ly bia chưa cạn. Khi xe cấp cứu
đến, Bác sĩ Tôn Thất Tùng (giáo sư Y khoa, y
sĩ riêng của Hồ Chí Minh) định nhảy lên
xe cùng đi tới bệnh viện th́ bị hai thanh niên
lực lưỡng áp sát ông: “mời bác sĩ quay lại
tiếp tục họp Quốc Hội, việc nước
quan trọng hơn.” Chiếc xe cấp cứu phóng
đi trước khi Tôn Thất Tùng hiểu chuyện ǵ
xảy ra với ông, hai thanh niên kia là ai và tại sao họ
lại ngăn cản ông đi cùng xe để săn sóc
bạn ông?
“Cái
chết của Dương Bạch Mai gợi nên một
nghi vấn. Ông ngả xuống đúng vào lúc ông sắp
sưả đọc một diễn văn nảy lưả
chống lại đường lối xây dựng xă hội
trại lính của Mao, đ̣i Đảng phải cải
thiện đời sống cho dân chúng, đ̣i thực hiện
dân chủ trong nội bộ Đảng, trong xă hội
và hàng loạt vấn đề khác. Bài diễn văn
ông đút trong túi áo để đọc trước Quốc
Hội biến mất…”
“Sau
này, nhân vụ tướng Hoàng Văn Thái rồi tướng
Lê Trọng Tấn thay nhau
đột tử đúng lúc chuẩn bị nhậm chức
Bộ trưởng Quốc Pḥng, dư luận lại nhắc
tới cái chết đáng ngờ của Dương Bạch
Mai nhiều năm về trước…”
Nhà
văn Xuân Vũ cũng có nhắc đến cái chết
của Dương Bạch Mai ngay tại quốc hội
ở Hà Nội như sau:
“Chuông
điện rung lên hết giờ giải lao, các đại
biểu trở lại chỗ ngồi,
nhưng Dương nghị sĩ c̣n hăng hái diễn
thuyết, đến sực tỉnh “giấc ngủ
mười năm” quay lại th́ chỉ c̣n ḿnh với
cô phục vụ viên giải khát. Cô nàng đưa chai
nước ngọt Hồng Hà đă khui nắp, tươi
cười: “Mời bác Tư (Dương Bạch Mai thứ
tư) dùng.” Ngài nghị sĩ ḥ hét hơi khan cổ nên
chụp lấy trút vào mồm để chạy lên ghế
chủ tịch đoàn cho kịp giờ. Nhưng than ôi,
cái ghế đó không bao giờ bác Tư Mai trở lại
được. Chỉ hai ngụm nốc vào, chưa nuốt
xong ngụm thứ ba th́ bác Tư xoay tṛn và ngă đánh
rật xuống nền gạch bông của ṭa nhà Quốc
Hội tại phiên khoáng đại hồi thập niên năm
1960…
“Ghê
gớm thay! Một cái chuyện đời, một chuyện
của cách mạng vô sản Việt Nam. Nào có khác ǵ
cách mạng vô sản ở Liên Xô và bên Tàu. Tôi viết
lại câu chuyện này để cho đồng bào Nam Bộ,
những người của “Muà Thu rồi…” và cho
ḍng họ, bà con nghị sĩ Dương Bạch Mai
đọc với trí nhớ càng ngày càng sáng tỏ của
tôi, đặc biệt là về những thảm kịch
như vầy.”
Như
vậy th́ theo cả hai nhà văn Vũ Thư Hiên, người
Bắc và nhà văn Xuân Vũ, người Nam tập kết,
có nhiều dư luận tại Hà Nội nghi ngờ rằng
ông Dương Bạch Mai chết
khi mới có 60 tuổi v́ đă bị đầu
độc. Người có khả năng làm được
việc đó phải có quyền, có quyền đến
độ có thể giết cả “bạn gái” Nông Thị
Xuân của Hồ Chí Minh rồi liệng xác xuống
đường và người đó không ai khác hơn là
Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Nội Vụ. Nhà
văn Vũ Thư Hiên cho biết rằng Trần Quốc
Hoàn là “đệ tử ruột” của Lê Đức
Thọ v́ hồi đó bộ Nội Vụ, sau này đổi
lại thành bộ Công An, là trực thuộc dưới
quyền Ban Tổ Chức Trung Ương Đảng của
Lê Đức Thọ .
Theo
nhà văn Vũ Thư Hiên, Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch,
Bộ Trưởng Y Tế, cựu chủ tịch Thanh Niên
Tiền Phong ở Nam Bộ trước ngày kháng chiến
cũng bị hai ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ
“không ưa”:
“Ông
Phạm Ngọc Thạch, trong một câu chuyện vui tại
nhà tôi hồi đầu thập
niên 1960, nói với ông Dương BạchMai:
-Mấy
chả không ưa mầy, v́ mầy thẳng ruột ngựa,
nghĩ sao nói dzậy, làm mấy chả mếch ḷng mới
lôi cái vụ mầy hợp tác với đám tờ-rốt-kít
ra mà rêu rao.
-Th́
mầy cũng bị mấy chả rêu rao là có thời
thân Nhật đó nưă. Chơi với tơ-rốt-kít
th́ mầy cũng chơi chớ bộ.
Rồi
Dương Bạch Mai cười ngất:
-Nè,
cẩn thận đó, sổ đen của mấy chả
chỉ có ghi thêm thôi chớ không có xóa đi đâu
nghen.”
“Mấy
chả” đây là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.
C̣n
Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Ngoại Giao, cũng là
người Nam Bộ?
Nhà
văn Vũ Thư Hiên cho biết: “ Lê Duẩn không
ưa Ung Văn Khiêm, luôn luôn
thọc gậy bánh xe, t́m cách tống Ung Văn Khiêm về
hưu. Vụ “bản tuyên bố chung” Hồ Chí Minh
kư với lănh tụ đảng Cộng sản Tiệp
Khắc Novotny là do Ung Văn Khiêm thảo, Hồ Chí Minh
duyệt rồi kư, sau bị Lê Đức Thọ đổ
riệt cho một ḿnh Ung Văn Khiêm để đưa
ông ra khỏi bộ Ngoại giao. Trong việc này, bàn tay
Lê Duẩn rất rơ. Nhưng đó là chuyện về
sau…”
Ông
Nguyễn Văn Trấn, cựu tư lệnh kiêm chính
ủy Khu 8 tại Nam Bộ có kể lại ông Ung Văn
Khiêm nói về chuyện này trong cuốn sách “Viết
Cho Mẹ và Quốc
Hội” của ông như sau:
“Trước
khi vào hội nghị, tao có tranh thủ nói riêng với
ông cụ, là tao sẽ không
đưa ra cái nháp bản tuyên bố chung của tao và
Novotny, cho ông cụ yên tâm. V́ trong bản thảo ấy
ông cụ có thêm mấy chỗ, c̣n mang tuồng chữ của
monsieur Hồ chí Minh rành rành. Tao nghĩ bản thảo
ấy đưa ra không phân bua ǵ cho tao, mà chỉ làm thớt
cho Sáu Thọ băm ông cụ…
“Hội
nghị 9 này có thông qua cái “ nghị quyết 9” và mấy
anh ấy nói là cũng có
trên 10 ủy viên trung ương không bỏ thăm. Anh
Khiêm lộ bí mật: “Tao có hỏi mí ông cụ có bỏ
thăm không. Ông cụ làm thinh.”(Ghi chú: Ông Cụ ở
dây là Hồ Chí Minh.)
[1]
Nhà văn Xuân Vũ cũng đă mượn lời
của bà vợ Ung Văn Khiêm nói về
việc này như sau: “Rồi Chị Ba nổi giận,
ra bộ tịch: “Chời ơi chời! Hỏi vậy,
em là Chủ tịch, người
ta đưa giấy cho em kư. Trước khi kư, em phải
coi lại rồi mới thọc bút kư chớ! Ai biểu
em nhắm mắt kư rồi chê trật, chê trúng. Người
ta ỷ có quyền người ta muốn làm ǵ th́ làm,
muốn nói sao hay vậy! Nhưng Anh Ba em đâu có chịu
thua. Anh Ba em cự lộn dữ lắm. Nhưng cự th́
cự chớ đâu có ăn nổi tụi chó hùa…”
“Người
ta” mà bà vợ của Ung Văn Khiêm nói ở đây
không ai khác hơn
là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ.
Lê Duẩn
Muốn Đập Tan Ảnh Hưởng của Nhóm Trí
Thức Nam Bộ
Không
riêng ǵ Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch,
Ung Văn Khiêm, những nhân vật trí thức và cán bộ
cao cấp miền Nam tập kết ra Bắc như Trần
Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần,
Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Văn Trấn, Huỳnh
Văn Nghệ v.v. đều bị thất sủng v́ họ
không những không chịu thần phục hai người
lănh đạo của Cộng sản thời Nam Bộ Kháng
chiến là “anh Ba”ø Lê Duẩn và “anh Sáu” Lê Đức
Thọ, lúc đó được tặng thêm một tên
mới nưă là “Sáu Búa,” mà ngược lại, dù
lúc bấy giờ hai người này đă trở thành
những người nắm vận mạng Đảng Cộng
sản và chính quyền ở Bắc Việt, họ vẫn
chống đối và coi thường, coi thường
đến cái độ họ vẫn gọi cả Lê Duẩn
và Lê Đức Thọ bằng “thằng.”
Trong
cuốn “Viết Cho Mẹ và Quốc Hội,” ông Nguyễn
Văn Trấn kể lại lời của ông Bùi Công Trừng:
“Tao
nói cho mầy nghe nha, Bùi công Trừng nói tiếp, về
chuyện lăo Hồ Chí Minh.
Tao nghe, thằng Thọ âm mưu lật đổ ông
già, và lấy Nguyễn chí Thanh thay. Ông lăo chỉ c̣n
làm người chuyên nghiên cứu lư luận Mác- Lê nin.
Chuyện nước giao cho Nguyễn chí Thanh. Việc
Đảng, Status quo – Lê Duẩn. Cái thằng tự
nhiên lại muốn làm Khổng Tử này, khó lật
đổ nó lắm. V́ nó có công trạng ở Nam Bộ,
và mấy bà má ôm nó chum chủm trong ḷng.
“Mầy coi, coi nó tội nghiệp không.
Đồng chí Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta bận bộ đồ lụa gụ,
chủ tŕ hội nghị mà day mặt ra sân. Có lỗ
tai tự nhiên nó phải hứng những lời công
kích mạt sát Liên Xô. Khi chướng tai quá quay vô,
đưa tay để nói, th́ thằng Thọ lễ
phép Bắc hà, “ Bác hăy để cho anh em người
ta nói đă mà .” Tao đếm lăo Hồ đưa tay mấy
lần, lần nào thằng Thọ cũng kịp
ngăn. Cuối cùng ông cũng cho hội nghị nghe, ông
nói ca dao bằng tiếng khóc: “Khi thương trái
ấu cũng tṛn, Khi ghét bồ ḥn cũng méo…”
Theo
ông Vũ Thư Hiên th́ “khi Cách Mạng Tháng Tám thành
công, Lê Duẩn c̣n lâu mới được coi là ngang hàng
với những nhân vật nổi tiếng trong phong trào
cách mạng miền Nam như Trần Văn Giàu, Phạm
Văn Bạch, Dương Bạch Mai…Những nhà cách mạng
trí thức khi ra Hà Nội họp Quốc Hội (1946) và
tham gia chính phủ đoàn kết dân tộc với tư
cách đại diện “miền Nam thành đồng,” bị
kẹt lại miền Bắc vào thời điểm kháng
chiến chống Pháp bùng nổ. Vắng mặt họ,
Lê Duẩn mới dần dần từ những chức vụ
khiêm tốn bước lên địa vị người
lănh đạo kháng chiến Nam Bộ.”
[1]
C̣n
Lê Đức Thọ: “Sáu Buá Lê Đức Thọ là người
miền Bắc, được Trường Chinh cử vào Nam năm 1947 với tư cách ủy
viên Thường vụ Trung ương Đảng để
nắm Trung Ương Cục miền Nam, nhưng Lê Đức
Thọ đă không một lần tranh được chức
bí thư miền Nam. Cũng có hục hặc với Lê
Duẩn, nhưng sau đó ư thức được thân
phận ḿnh trên đất lạ, Lê Đức Thọ lại
t́m sự liên minh với Ba Duẩn để trở thành
“Sáu Búa”…
[1]
Trần
Huy Liệu: Viết Sử Theo “Lối định Đề”
Nhà
văn Xuân Vũ nhận xét rằng “bọn Lê Duẩn…có
ba cái sợ: một là sợ
trí thức, hai là sợ tôn giáo, ba là sợ dân Nam Kỳ.”
[1]
Có
lẽ đó là nguyên nhân tại sao những người
trí thức Nam Kỳ đă bị Lê Duẩn và Lê Đức
Thọ “cho ra rià,” theo
cách nói của ông Xuân Vũ. Cho ra rià chưa đủ,
Lê Duẩn và Lê Đức Thọ c̣n t́m cách hạ luôn
cả giới trí thức Nam Kỳ và xa hơn nưă là
cả nền văn hoá đặc thù của miền Nam.
Người được chọn để đảm
nhiệm công việc này là một nhà báo miền Bắc
đă từng sống ở Sài G̣n, đă từng cộng
tác với nhiều tờ báo ở Sài G̣n hồi thập
niên 1920, người đó là Trần Huy Liệu, lúc
đó đang giữ chức Viện Trưởng Viện
Sử Học.
Trần
Văn Giàu là một nhà trí thức Cộng sản nổi
tiếng từ khi c̣n du học ở Pháp, ông đậu
bằng Tiến Sĩ về Sử học tại Toulouse
nhưng sau đó bị đuổi về Việt Nam
năm 1931. Ông lén trốn sang Nga Xô và ông được
nổi tiếng v́ vào năm 1933, ông tốt nghiệp thủ
khoa trường Lao Động Đông Phương ở
Mạc Tư Khoa mà người đậu thứ nh́ là
ông Maurice Thorez, sau này là Chủ tịch Đảng Cộng
sản Pháp. Sau ngày 19 tháng 8 năm 1945, Trần Văn Giàu
giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Kháng Chiến
Nam Bộ, gọi tắt là “Lâm Ủy Hành Chánh,” kiêm
Ủy Viên trưởng Quân sự và Giàu cùng với Dương
Bạch Mai là hai người chịu trách nhiệm về
việc khoảng trên hai vạn người thuộc thành
phần trí thức, tiểu tư sản, Cao Đài, Ḥa
Hảo v.v. bị Việt Minh thủ tiêu tại Nam Bộ
vào tháng 9 năm 1945, trong số này có cả Luật sư,
nhà báo Diệp Văn Kỳ, học tṛ của Phó Bảng
Nguyễn Sinh Huy, thân phụ của Hồ chí Minh. Sau
đó, Trần Văn Giàu ra Bắc nhưng không
được trọng dụng, chỉ được làm
việc trong Hội Nghiên Cứu Mác-xít và đi dạy học,
tuy nhiên Trần Văn Giàu cũng là người c̣n
có nhiều uy tín trong giới Nam Bộ tập kết.
Nhà văn Xuân Vũ đă trích dẫn lời của Trần
Văn Giàu nhận xét về Trần Huy Liệu như
sau:
“Giàu
đă căi lộn với Trần Huy Liệu. Giàu gọi
là “ông già Liệu” (lúc đó
mới khoảng 60 tuổi), có tính cách chế diễu Trần
Huy Liệu là tên chỉ làm những việc do ở trên
sai bảo, v́ tên “sử gia” này viết sử theo lối
“định đề.” Liệu c̣n nhận định
láo rằng “dân tộc Việt Nam h́nh thành từ khi có
Đảng Cộng sản Đông Dương…”
Nhà
văn Vũ Thư Hiên cũng có tiết lộ thêm một
vài chi tiết về Trần Huy Liệu. Ông cho biết rằng
bạn của ông là Nguyễn Trọng Luật đă
có nhận xét về việc ông Vũ Đ́nh Huỳnh bị
bắt rằng: “ nhưng Thọ muốn th́ Duẩn
cũng không ngăn, mọi
việc Thọ làm từ trước tới nay đều
v́ lợi ích của cả hai. Thằng này làm việc
đó để làm ǵ, nhằm mục đích ǵ? Anh ngờ
bên trong vụ này có điều uẩn khúc, liên
quan tới thời kỳ Thọ ở Sơn La.” Trong phần
ghi chú, Vũ Thư Hiên nói thêm rằng “Anh Luật có
lư trong suy luận: trong vụ trấn áp “nhóm xét lại
chống Đảng,” chỉ có những người tù
cũ ở Sơn La cùng với Lê Đức Thọ bị
bắt. Có lần tôi nghe Tướng Đặng Kim Giang
nói về chuyện công sứ Coussot (tên chính thức là
Cousseau) có mua chuộc được vài tên phản bội
làm chỉ điểm, do đó có những kế hoạch
của ban lănh đạo tù nhân bị lộ.”
[1]
“Ngoài
chuyện tính cách, chắc cha tôi c̣n có điều nghi ngờ
Lê Đức Thọ trong sự
liên lạc thậm thụt với công sứ Cousseau mà
ông biết trong thời gian ông làm thư kư trong nhà tù Sơn
La. Vào những năm này, những cựu tù nhân Sơn
La kể lại, Lê Đức Thọ một hồi
được Cousseau lấy ra làm tạp dịch tại
nhà y. Cũng trong thời gian này một số việc của
ban lănh đạo tù nhân bị lộ. Tướng Nguyễn
Kim Giang cũng có chung với cha tôi mối nghi ngờ
đó… Nhưng cả hai im lặng. Với một Lê
Đức Thọ quyền sinh quyền sát như thế,
giữ im lặng là phải. Mặc dù cùng tù với nhau
ở Sơn La nhưng cha tôi không bao giờ coi Thọ là
bạn. Ông Đặng Kim Giang cũng vậy. Dưới
con mắt của ông, Lê Đức Thọ là một tên
hạ lưu hănh tiến…”
Trần
Huy Liệu cũng bị tù ở Sơn La cùng thời với
Lê Đức Thọ (1939-1945) và theo Vũ Thư Hiên th́
“Thọ đă nhiều lần mưu mô hạ các đồng
chí lăo thành cách mạng để
tôn ḿnh lên. Việc Thọ xúi giục một số
đồng chí hăng hái thái quá buộc ông Trần Huy
Liệu, cựu đảng viên Quốc Dân Đảng,
phải lên án đảng cũ của ḿnh là manh động
trong khởi nghiă Yên bái là một thí dụ…”
Nghe
nói Trần Huy Liệu không đọc bản báo cáo kết
tội Việt Nam Quốc Dân Đảng v́ lănh tụ
Nguyễn Thái Học cùng những vị anh hùng của Việt
Nam Quốc Dân Đảng đă anh dũng hy sinh trên
đoạn đầu đài của thực dân Pháp chỉ
mới cách đó hơn hai mươi năm và c̣n
được toàn dân Việt Nam tôn sùng kính phục,
tuy nhiên sau khi Tướng Đặng Kim Giang, “anh hùng
Điện Biên Phủ,” ông Vũ Đ́nh Huỳnh, cựu
bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh bị vào
tù th́ Trần Huy Liệu phải lo thủ lấy thân và
phải làm những việc “do ở trên sai bảo.”
Khi Lê Duẩn và Lê Đức Thọ muốn t́m cách hạ
bệ một thần tượng của giới trí thức
Nam Kỳ th́ Trần Huy Liệu không dám từ chối chống
lại dù rằng phải “viết sử theo lối
định đề.”
Với
tư cách là một giáo sư Sửû học, với tư
cách là Viện Trưởng Viện Sử Học, Trần
Huy Liệu đă t́m được một đối
tượng đại diện cho miền Nam, đó là Cụ
Phan Thanh Giản, người đă tử tiết gần
một thế kỷ về trước. Đă từng sống
ở Nam Kỳ, Trần Huy Liệu biết rằng người
dân miềân Nam tôn thờ cụ Phan Thanh Giản, vị
tiến sĩ đầu tiên của miền Nam và cũng
là đại diện cho giới trí thức, cho ḷng yêu nước
của người dân miền Nam. So với uy tín của
Cụ Phan Thanh Giản trong quần chúng, những người
trí thức Cộng sản như
Dương Bạch Mai, như Trần Văn Giàu, như
Ung Văn Khiêm, như Nguyễn Văn Trấn v.v. cùng với
bao nhiêu người Nam bộ khác c̣n ở miền Bắc
và hàng triệu người ở miền Nam đâu có
quan trọng bằng, do đó chỉ cần hạ bệ
cái thần tượng anh hùng của Cụ Phan Thanh Giản
là có thể đập tan được cái ảnh hưởng
của “bọn trí thức Nam Kỳ” từ Bắc chí
Nam. Việc giáo sư Sử học Trần Huy Liệu chọn
Phan Thanh Giản làm đối tượng để lên
án chẳng có ǵ mới lạ v́ hồi thế kỷ thứ
19, chính vua Tự Đức cũng đă kết tội
và ra lệnh đục bỏ tên của Phan Thanh Giản
khỏi bia đá tiến sĩ.
Người
viết không được đọc nguyên văn bài của
ông Trần Huy Liệu, nhưng theo Giáo sư Phan Huy Lê
th́ đó là một “bài kết luận” được
đăng trên Tạp Chí Nghiên Cứu Lịch Sử số
55 vào tháng 10 năm 1963 và đến 12 năm sau th́ người
Cộng sản đă áp dụng những điều
đă được “nhất trí” trong bài kết luận
này, do đó có thể nói đây là một bản nghị
quyết về lập trường của đảng Lao
Động Việt Nam thời thập niên 1960 đối
với cụ Phan Thanh Giản.
Sau
năm 1975, tất cả những tên đường, những
trường học mang tên Cụ Phan Thanh Giản đă
bị hủy bỏ ngay sau khi Cộng sản Hà Nội
chiếm được miền Nam theo lệnh của hai
người lănh đạo cao cấp nhất của
Đảng Cộng sản: Tổng Bí Thư Lê Duẩn
và Uỷ Viên Bộ Chính Trị Lê Đức Thọ.
Như vậy, có thể nói rằng Trần Huy Liệu
đă “viết sử theo lối định đề”
v́ đă được Lê Duẩn và Lê Đức Thọ
“ở trên sai bảo” phải
làm như vậy.
Sau
tháng tư năm 1975, những khuôn mặt trí thức tại
miền Nam, từ những thành viên trong
cái gọi là “Mặt Trận Dân Tộc Giải
Phóng Miền Nam,” từ những thành viên trong cái gọi
là “Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt
Nam” cho đến những phần tử trí thức
đă theo Cộng sản từ năm 1945 và đă tập
kết ra Bắc vào năm 1954, tất cả đều
trở thành những cái bóng mờ không một tiếng
nói trong một nước Việt Nam “thống nhất”
dưới quyền lănh đạo tuyệt đối của
nhóm Lê Duẩn-Lê Đức Thọ.
Họ
đă đạt được mục tiêu mà họ muốn
vào lúc đó.
Người
viết chỉ căn cứ vào những sự kiện
đă được ghi chép lại qua một vài cuốn
sách đă được xuất bản và qua những
câu chuyện truyền khẩu để t́m hiểu thêm
về nguyên nhân của việc Trần Huy Liệu đă
kết tội Cụ Phan Thanh Giản là “phản lại
nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân
tộc” tức là tội “phản quốc” và đă
t́m thấy rằng một trong những nguyên nhân đó,
có lẽ là hai ông cựu lănh đạo Nam Bộ Kháng
Chiến, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, căm hận
giới trí thức Nam Kỳ đă tỏ ra coi thường
vai tṛ lănh đạo của họ cho nên đă t́m cách
trả thù.
Lịch
sử thường được viết bởi những
kẻ chiến thắng.
Vào
năm 1975, Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là những
kẻ chiến thắng.
Cũng
như vào năm 1917 tại Nga, những người
Bolcheviks là những kẻ chiến thắng và sau đó tất
cả những thành phố, những đền đài
cung điện, những tên đường phố có
mang tên những vị vua chúa, những vị anh hùng thời
Nga Hoàng đều bị đổi tên. Sau năm 1991, những
người Bolcheviks không c̣n nưă và nhân dân Nga đă
lấy lại tên cũ của những thành phố, tên
cũ của những vị anh hùng trong lịch sử của
họ để trả lại cho những thành phố,
những trường học, những công viên, những
con đường đă bị mất tên hơn 70
năm về trước.
Một
vị giáo sư người Mỹ có nói với người
viết rằng ngày xưa Leo Tolstoy viết cuốn “War
and Peace” với những tên đường phố thời
đó và sau năm 1917 th́ những con đường
trong thành phố St Petersburg đều
bị đổi tên và cả thành phố này cũng
bị đổi thành “Leningrad,” tên của người
lănh đạo cuộc cách mạng Bolcheviks của Liên
Xô và là vị “cha già của Xă Hội Chủ Nghiă,”ơ
cũng giống như những người Cộng sản
Việt Nam đổi tên thành phố Sài G̣n ra “Thành phố
Hồ Chí Minh” sau năm
1975. Tuy nhiên sau năm 1991, khi chế độ Cộng sản
bị sụp đổ th́ thành phố này lại
được nhân dân Nga trả lại tên cũ “St
Petersburg” sau gần 75 năm bị mất tên và tất
cả những con đường trong thành phố thơ
mộng này cũng đă được trả lại những
tên cũ “y chang” như Leo Tolstoy mô tả vào thời
cuối thế kỷ thứ 19.
Cựu Thủ Tướng
Vơ Văn Kiệt: Phan Thanh Giản là Người Yêu Nước,
Thương Dân, Đáng Để Lại Gương Soi
Cho Hậu Thế
Ở
Việt Nam, trong thời gian gần đây có những dấu
hiệu cho thấy có một vài sự cởi mở dè dặt,
tuy không chính thức, nhưng chính quyền Cộng sản
Việt Nam đă “không ngăn cấm” việc tổ
chức một số hội thảo hay là “tọa đàm
khoa học” về nhân vật
Phan Thanh Giản.
Lần
đầu tiên vào năm 1994, một cuộc hội thảo
về nhân vật Phan Thanh Giản đă được tổ
chức tại Vĩnh Long theo sự yêu cầu của
nhân dân hai tỉnh Bến Tre, quê hương của cụ
Phan và Vĩnh Long, nơi cụ Phan trấn nhậm và tử
tiết vào năm 1867. Cuộc hội thảo này có sự
tham dự của 19 vị diễn giả, trong số
đó có Luật sư Phan
Thanh Hy, hậu duệ đời thứ 5 của cụ
Phan đang sống tại Pháp (vưà mới từ trần
năm 2004) với bài “Cái Chết của Phan Thanh Giản”
và Giáo sư Phan Huy Lê, một học giả về văn
hoá và lịch sử Việt Nam, sau này đă xuất bản
một cuốn sách về cụ Phan vào năm 1997: “Phan
Thanh Giản (1796-1867), Con Người, Sự Nghiệp
và Bi Kịch Cuối Đời”.
Trong
bài kết thúc cuộc hội thảo này, Giáo Sư Phan
Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt
Nam, giáo sư Sử học trường Đại học
Quốc Gia Hà Nội, đă kết luận rằng “tất
cả chúng ta đều nhất trí không nên và không thể
gán cho ông Phan Thanh Giản cái
tội bán nước hay phản tổ quốc. Đó
là sự quy kết quá nặng nề không có căn cứ,
vưà không đúng hành động và động cơ
của ông, vưà trái với tấm ḷng ngưỡng mộ
kính mến mà xưa nay nhân dân quê hương đă
dành cho ông…”
[1]
Như
vậy th́ lời lẽ được sử dụng
trong bài kết luận này hoàn toàn khác hẵn bài kết
luận của Trần Huy Liệu, có thể nói là đă
đi ngược hoàn toàn với quan điểm của
Trần Huy Liệu hay là của Đảng vào năm
1963.
Điều
đáng chú ư là cuộc hội thảo này lại
được chính giáo sư Phan Huy Lê đúc kết,
ông Lê là một trong những vị giáo sư Sử Học
có uy tín đứng hàng đầu trong nước Việt
Nam. Thêm một điều nưă cũng rất đáng
chú ư là cuộc hội thảo được tổ chức
tại tỉnh Vĩnh Long. Một trong những người
ở địa phương có
trách nhiệm đứng ra tổ chức cuộc hội
thảo này là Nguyễn Chiến Thắng, bí danh là Sao
Vàng, lúc đó giữ chức vụ Thường Vụ
Tỉnh Ủy-Trưởng Ban Tuyên Giáo tỉnh Vĩnh
Long. Nguyễn Chiến Thắng là người được
xem như là rất thân tín của ông Vơ Văn Kiệt tại
Vĩnh Long, quê hương của ông Vơ Văn Kiệt, lúc
đó đang làm Chủ Tịch Hội Đồng Bộ
Trưởng tức là thủ tướng chính phủ.
Trong cuộc tọa đàm khoa học vào tháng 8 năm
2003, ông Vơ Văn Kiệt mới tiết lộ thêm rằng
hồi đó chính ông cũng có tham dự cuộc hội
thảo vào năm 1994 tại Vĩnh Long.
Tuy
Cụ Phan Thanh Giản là người tỉnh Bến Tre
nhưng cho đến cuối thế kỷ thứ hai
mươi th́ nhân dân tỉnh Vĩnh Long vẫn tôn thờ
cụ như là một bậc đại anh hùng, dù rằng
cụ đă uống thuốc độc quyên sinh từ năm
1867 và Cụ vẫn c̣n được nhân dân Vĩnh
Long thờ phụng tại Văn Xương Các ở
thành phố này. Không những tôn thờ cụ Phan Thanh
Giản, nhân dân Vĩnh Long lại c̣n tôn thờ cả
hai người con của cụ nưă. Trong cuốn “Khởi
Nghiă Nam Kỳ ở Vĩnh Long,” ngay phần mở đầu
có viết rằng “Năm 1867, Phan Tôn và Phan Liêm đứng
lên lănh đạo phong trào
kháng Pháp ở Vĩnh Long, Trà Vinh cùng các tỉnh Bến
Tre, Sa Đéc…”
[1]
Hai ông Phan Thanh
Tôn và Phan Thanh Liêm là con trai của cụ Phan Thanh Giản.
Tuy
nhiên sau cuộc hội thảo này th́ t́nh trạng vẫn
như cũ, không có ǵ thay đổi cho đến
năm 2003 th́ mới có một cuộc “tọa đàm
khoa học” được
tổ chức một cách trọng thể tại Sài G̣n
với nhiều nhân vật rất có tên tuổi tham dự.
Nhật
báo Tuổi Trẻ cho biết rằng “ngày 16 tháng 8 năm
2003 tại Thành phố Hồ
Chí Minh, tạp chí Xưa & Nay, Hội Khoa học Lịch
sử Việt Nam, Hội Đồng Khoa Học xă Hội
Thành Phố Hồ Chí Minh đă phối hợp tổ chức
tọa đàm khoa học “Thế Kỷ 21 Nh́n Về
Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản.” Cuộc tọa
đàm khoa học này là một cuộc trao đổi tiếp
theo hai cuộc hội nghị tổ chức vào những
năm trước cũng nhằm đánh giá về nhân
vật Phan Thanh Giản.
“Tới
dự cuộc tọa đàm có nhiều nhà nghiên cứu
lịch sử, sinh viên sử học…, nguyên Thủ tướng
Vơ Văn Kiệt cũng có mặt suốt cuộc tọa
đàm…
“Ư
kiến đồng thuận chung là không thể coi Phan
Thanh Giản là kẻ “bán nước.” Nhân cách của
ông, cống hiến của ông cho đất nước
đă chiếm được tấm ḷng ngưỡng mộ
của nhân dân miền Nam…
“Đại
biểu nhiều tỉnh như Vĩnh Long, Bến Tre… nêu
nguyện vọng là Nhà Nước nên xem xét và cho phép
đặt lại tên đường Phan Thanh Giản,
trường học Phan Thanh Giản, sưả chưă bổ
sung kiến thức về Phan Thanh Giản trong các sách
giáo khoa, giáo tŕnh để đông đảo đồng
bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn và đặt
ông vào đúng vị trí trong lịch sử, trong đời
sống văn hóa của nhân dân ta…
“Tiến
sĩ Nguyễn Văn Khoan”
Giáo
sư Văn Tạo, một sử gia thuộc Viện Sử
học Hà Nội có đọc một bài nhận định,
trong phần kết thúc ông đă đưa ra 5 điểm
sau đây: “Khẳng định cụï
Phan Thanh Giản là một người yêu nước,
thương dân…; cụ Phan thanh Giản không có ư đồ
phản bội quyền lợi dân tộc mà muốn bảo
vệ quyền lợi dân tộc…; công lao xây dựng
đất nước của cụ Phan thật đáng
ca ngợi; cụ là một trong những nhà yêu nước
đầu tiên có xu hướng canh tân và việc kư ḥa
ước về 3 tỉnh miền Đông cũng như
việc để mất 3 tỉnh miền Tây là sai lầm
nhưng trách nhiệm về sai lầm đó là thuộc
triều đ́nh Tự Đức, cụ chỉ là người
thưà hành và liên đới chịu trách nhiệm…”
Nhân
vật đáng chú ư nhất trong cuộc “tọa đàm khoa học” này là ông Vơ Văn Kiệt, cựu
Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng Cộng sản
Việt Nam, cựu Chủ Tịch Hội Đồng Bộ
Trưởng…Tuy ông Vơ Văn Kiệt đă về hưu
trí và năm nay đă 82 tuổi nhưng vẫn c̣n có rất
nhiều ảnh hưởng trong giới lănh đạo
ở trong nước, nhất là ở miền Nam, kể
cả trong giới trí thức v́ vợ của ông Kiệt
là Tiến sĩ Phan Lương Cầm, giáo sư Đại
học Hà Nội và là con gái của ông Phan Tử Lăng,
một nhân vật từng giữ chức vụ cao cấp
nhất về quân sự trong chính phủ Trần Trọng
Kim vào năm 1945.
Trong
cuộc hội thảo này, ông Vơ Văn Kiệt đă
đọc một bài nhận định dài 3 trang trong
đó ông đă nói như sau:
“Tôi
có được dự hai lần Hội thảo về
Phan Thanh Giản. Với tôi, lần thứ
hai này đă cho tôi sáng tỏ nhiều điều.
“Những
ǵ mà tôi nghe được, đọc được từ
những trang sử học, những ǵ mà tôi nghe
được, biết được trong dư luận
nhân dân, Phan Thanh Giản là người thương dân rất
mực, trong sáng trong đời sống riên tư, cần
kiệm, liêm chính, hết ḿnh trong công việc…Với
tôi, đây là một tấm gương mà mỗi chúng
ta nên suy nghĩ và học tập…”
Trong
phần kết luận, ông Vơ Văn Kiệt nói rằng:
“Cuối
cùng tôi cũng muốn nhắc lại câu nói như một
tuyên ngôn của Phan Thanh Giản
khi biết chắc 3 tỉnh miền Tây đă rơi vào
tay giặc: Phan Thanh Giản không thể sống ở nơi
mà lá cờ ba sắc phất phới bay!
“Với
tuyên ngôn này và với những ǵ tôi đă tŕnh bày,
tôi khẳng định rằng: Phan Thanh Giản là một
người yêu nước, thương dân. V́ yêu nước,
thương dân mà lo không tṛn bổ phận, cụ đă
tự làm bản án cho chính ḿnh: đó là cái chết.
“Một
cuộc đời thanh sạch, thật đáng để
lại gương soi cho hậu thế.
“Sau
cuộc tọa đàm tháng 8 năm 2003, tôi đă về
thăm mộ Phan Thanh Giản và đốt nhang lạy
hương hồn cụ. Và tôi cũng quyết định
xây lại khu mộ phần và nhà thờ cụ bởi mộ
cụ đă bị thời gian bào ṃn qúa nhiều.
“Một
lần nưă tôi khẳng định Phan Thanh giản là
người yêu nước, thương dân, một phẩm
cách đáng kính trọng, một tấm gương để
cho mọi thế hệ suy nghĩ…”
[2]
Đúng
40 năm sau cuộc hội thảo lần thứ nhất
tại Hà Nội để “kết tội” cụ Phan
Thanh Giản, cuộc “toạ đàm khoa học” hay hội
thảo về nhân vật Phan Thanh Giản lần thứ
ba này đă cho thấy có sự tiến bộ rơ rệt,
có sự thay đổi trong cái nh́n của các hội thảo
viên và họ đă đều “nhất trí,” thực sự
nhất trí, trong việc thưà nhận ḷng yêu nước
thương dân của cụ Phan. Hai nhân vật đặc
biệt là Giáo Sư Văn Tạo cũøng như ông
cựu Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt đă
dùng tiếng “khẳng định,” có nghiă là không
c̣n ǵ để phải bàn căi, thảo luận nưă,
không thể nào chối căi được cụ Phan là một
nhà ái quốc, một người yêu nước,
thương dân…
Ông
Sáu Dân tức là cựu Thủ Tướng Vơ Văn Kiệt
đă có hành động cụ thể trong lập trường
này và ngày 15 tháng 8 năm 2003, ông đă hướng dẫn
một phái đoàn mà người viết đếm
được là 15 người (theo bức h́nh
đăng trên báo Xưa & Nay) về thăm mộ cụ
Phan Thanh Giản tại Ba Tri tỉnh Bến Tre. Ông Vơ Văn
Kiệt nói rằng ông đă “đốt nhang lạy
hương hồn cụ,” một việc hiếm thấy
nơi một người Cộng sản cao cấp
và ông cũng c̣n hưá là sẽ “xây lại
khu mộ phần và nhà thờ
cụ…”
Những
tin tức người viết nghe được từ
Việt Nam cho biết ông Vơ Văn Kiệt đă giữ
đúng lời hưá đó v́ nghe nói trong một thời
gian rất gần đây, một buổi lễ khánh
thành mộ phần và nhà từ đường mới
thờ cụ Phan Thanh Giản sẽ được tổ
chức rất trọng thể tại Bến Tre với sự
tham dự của đông đảo quan khách và đồng
bào các tỉnh miền Tây.
Như
vậy th́ một vài kết quả của cuộc tọa
đàm khoa học “Thế Kỷ 21 Nh́n
Về Nhân Vật Lịch Sử Phan Thanh Giản” tại
Sài G̣n ngày 16 tháng 8 năm 2003 đă được thể
hiện qua lời hưá hẹn và những việc làm của
ông Vơ Văn Kiệt, tuy nhiên, vẫn c̣n có một vài
nguyện vọng khác chưa thấy được thực
hiện. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Văn Khoan th́ trong cuộc
hội thảo này, nhân dân miền Tây c̣n có đ̣i hỏi
thêm một vài nguyện vọng khác: “đại biểu
của nhiều tỉnh như Vĩnh Long, Bến
Tre … nêu nguyện vọng là Nhà Nước nên xem xét
và cho phép đặt lại tên đường Phan Thanh
Giản, trường học Phan Thanh Giản, sưả
chưả bổ sung kiến thức về Phan Thanh Giản
trong các sách giáo khoa, giáo tŕnh để đông đảo
đồng bào, nhân dân ta hiểu Phan Thanh Giản hơn
và đặt Ông vào đúng vị trí trong lịch sử,
trong đời sống văn hóa của nhân dân ta…”
*
*
*
Một
giải pháp có tính cách chính trị chỉ nhằm để
giải quyết cho một nhu cầu chính trị. Nhu cầu
chính trị bao giờ cũng chỉ có tính cách giai đọan
và đoản kỳ chứ không trường cửu
trong chiều dài lịch sử của dân tộc.
V́
nhu cầu chính trị cho nên ngay từ tháng 5 năm 1975
“chúng ta đổi tên
đường Phan Thanh Giản ở Thành phố Hồ
Chí Minh thành đường Điện Biên Phủ và một
số nơi, có người đề nghị xoá bỏ
hay hạn chế bớt việc duy tŕ và tu tạo những
di tích lịch sử về Phan Thanh Giản.”
V́
nhu cầu chính trị này nên năm 1975, Ủy Ban Khoa Học
Xă Hội của Đảng Lao Động dưới
quyền chỉ đạo của Lê Duẩn và Lê Đức
Thọ đă phái hai nhà trí thức của Đảng là
Giáo sư Nguyễn Công
B́nh và Giáo sư Nguyễn Đổng Chi
vào Sài G̣n với nhiệm vụ xóa tên cụ Phan
Thanh Giản trên toàn thể lănh thổ miền Nam Việt
Nam.
Lê
Duẩn và Lê Đức Thọ không c̣n nữa.
Nhu
cầu chính trị quá khích của họï thời thập
niên những năm 1960 cũng không c̣n nưă.
Cho
đến chừng nào nguyện vọng của nhân dân
các tỉnh miền Tây trong cuộc tọa đàm khoa học
“Thế Kỷ 21 nh́n Về Nhân Vật Lịch Sử
Phan Thanh Giản” mới được thực hiện?
Cho
đến chừng nào người dân Miền Nam mới
được nh́n thấy những con đường,
những trường học được mang lại những
tên cũ của các vị anh hùng dân tộc của một
thời xưa cũ, trong đó có cảù tên Cụ Phan
Thanh Giản, một trong hai vị anh hùng của xứ
Nam Kỳ vào thời thế kỷ thứ 19 mà cụ Nguyễn
Đ́nh Chiểu đă ca ngợi:
“Phải
trời cho mượn cán quyền phá lỗ,
Trương
Tướng Quân c̣n cuộc nghiă binh,
“Ít
người đặng xem tấm bảng phong thần,
Phan
Học Sĩ hết ḷng mưu quốc”?
Trần
Đông Phong
California,
Mùa Xuân 2004