NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

….

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ.

Đ́nh Liên

H́nh ảnh quen thuộc đă bị văn minh Tây Phương ập vào làm đổi thay trong thế kỷ trước những ông đồ không c̣n trên phố vận quốc phục ngồi viết liễn, câu đối mỗi độ xuân về, nhưng vẫn c̣n măi trong thơ Vũ Đ́nh Liên và trong ḷng mọi người như một giá trị truyền thống Việt Nam. H́nh ảnh đó khiến chúng ta liên tưởng đến thầy cô một đời tận tụy đem hết tim óc ra truyền thụ chữ nghĩa cho mọi lớp môn sinh Phan Thanh Giản – Đoàn Thị Điểm mà nay không c̣n nữa. Với mục " Những Người Muôn Năm Cũ” trên Đặc San PTG-ĐTĐ Úc Châu hàng năm để chúng ta ghi lại đôi nét chấm phá về cuộc đời, tiểu sử để kính nhớ và vinh danh những bậc ân sư, hoặc như một lời xin tha thứ bởi những lỗi lầm hay hổn hào quấy phá thời non trẻ, mà nay ngẩm lại muốn t́m người để tạ lỗi th́ đă muộn, v́ thầy cô đó nay đă là "Người Muôn Năm Cũ”.

Đặc San PTG-ĐTĐ Úc Châu

THẦY ĐỖ VĂN CỦA (1913-2002)

CÔ PHÙNG THỊ BA (1914-1988)

Theo yêu cầu của anh Bùi Hữu Trạng đại diện Ban Chủ Biên đặc san PTG/ĐTĐ 2004 Úc Châu, chúng tôi cố gắng ghi lại vài kỷ niệm về Ba Mẹ với hai trường PTG/ĐTĐ Cần Thơ, từ cuối thập niên 40(1940) đến cuối thập niên 60(1960).Cá nhân chúng tôi là một một trong sáu người con trai được sống bên cạnh Ba Mẹ nhiều nhất.

Ba và Mẹ đều xuất thân tù gia đ́nh lao động nghèo ở Cần Thơ.Quê nội là xóm phố 18 căn tại tỉnh lỵ.Quê ngoại ở làng Sơn Trắng,quận Trà Nóc.

Thời học sinh cả hai đều là học tṛ cưng và giỏi của Ông giáo Phận - Lâm Văn Phận, và chính Thầy đă làm trung gian cho sự quen biết nhau giữa Ba và Mẹ sau nầy.Lên bậc trung học, Ba vào Collège de Cantho, và Mẹ là một nử sinh sinh trường Aó Tím Gia Long Sài G̣n.

Sau khi tốt nghiệp Trường Sư Phạm Sài G̣n (Ecole Normale),vừa là đồng môn, đồng nghiệp,và đồng cảnh ngộ “dưa leo, cá kèo ",Ba và Me đồng ư nắm tay bắt đầu “kiếp tầm tơ” tại trường tiểu học quận Trà Ôn,tỉnh Cần Thơ - vào thời Ông Nguyễn Văn Kính (cựu hiệu trưởng PTG) làm thanh tra Tiểu Học.

Năm 1945,v́ biến chuyển thời cuộc, Ba Mẹ phải bồng bế cả nhà tản cư về Cần Thơ bằng ghe chèo.Ghe phải tắp vô Trà Mơn để tránh mưa to gió lớn trên sông cái.....

Đến Cần Thơ, gia đ́nh tạm cư tại Rạch Côn, gần Bót Thầy Phận. Sau đó Ba Mẹ được bổ nhiệm về trường College PTG.Mẹ chỉ dạy những môn dành riêng cho các nữ sinh.

Ngoài việc dạy học, Ba rất ưa chuộng nghệ thuật nhiếp ảnh, và từ cái tính thích chơi h́nh tại gia, Ba Mẹ đă lập nên một tiệm chụp h́nh nhỏ có tên là "Photo Amateur Mỹ Ánh " trên đường Paul Doumer (nay là Nguyễn Trăi nối dài), ngang chợ Cầu Đôi Cái Khế. Kể từ đó, khi Ông Nguyễn Băng Tuyết làm Hiệu trưởng, Ba đă ghi lại những sinh hoạt cá nhân và tập thể trong Trường qua ống kính máy h́nh "Roleiflex " tốt nhất thời bấy giờ. Chúng tôi c̣n nhớ, những năm đầu thập niên 50, khi tết đến, các chị học tṛ của Mẹ thường rủ nhau từng nhóm đến thăm và mừng tuổi Thầy Cô, rồi cùng chụp ảnh lưu niệm... và "hai thằng út " chúng tôi phải mệt lo việc mang nước ngọt ra mời các chị, khách của Mẹ...

Sống bên cạnh Ba Mẹ, chúng tôi thường nghe hai người bàn luận những chuyện vui buồn, những sinh hoạt hàng ngày, trong và ngoài học đường: từ những anh lao công đến quư vị Hiệu trưởng, quư thầy cô, phụ huynh, học sinh, chính quyền,vv...

Khi Trường thành lập Hiệu Đoàn PTG, Ba được cử làm Hiệu Đoàn Trưởng, có văn pḥng Hiệu Đoàn ở dăy lầu giữa, bên cạnh đường Pasteur. Để góp vào sinh hoạt Hiệu Đoàn, Ba mở một lớp dạy chụp h́nh cho học sinh và nhân viên,v́ thời đó chưa có máy h́nh tự động như ngày nay; người chụp ảnh phải biết cách tùy theo ánh sáng mà mở hay đóng ống kính (aperture) cho đúng để có ảnh đẹp.

Dưới thời Đệ Nhất Cộng Ḥa, Trường chỉ định Ba và Mẹ trách nhiệm hướng dẫn phái đoàn học sinh ưu tú của trường PTG lên thủ đô Sài G̣n dự lể Quốc Khánh và tiếp kiến Tổng Thống. Kỷ niệm này chị Nguyễn Ngọc Hương ghi lại đầy đủ ở trang 68 trong đặc san PTG/ĐTĐ số 8, phát hành tại Seattle 2003.

Sau đó, Ba được Trường giao nhiệm vụ hướng dẫn đoàn học sinh PTG tham dự trại hè Vũng Tàu, cùng một số học sinh các tỉnh miền Tây Hậu Giang. Trại hè này dành cho học sinh lớp lớn, nhưng chúng tôi cũng được tháp tùng v́ là con của trưởng đoàn. Phương tiện bằng xe nhà binh "GMC mười bánh ", tất cả là ba bốn chiếc ǵ đó,chúng tôi không nhớ rơ, c̣n nhớ rơ là các anh chị thường vỗ tay ca vang suốt cuộc hành tŕnh. Rồi dọc đường bị mắc mưa, và một xe bị nổ lốp; cả đoàn phải dừng lại chờ thay bánh, và tiếp tục đến Vũng Tàu vào xế chiều. V́ lần đầu tiên từ vùng sông rạch Hậu Giang được thấy biển xanh, gió mát mênh mông, ai cũng mừng quá, chạy xuống biển nhảy sóng, nếm mùi nước biển mặn, tắm mệt nghỉ.....

Trại hè là khu nhà nghỉ mát (maisons de repos) cho công chức thời Pháp, ở băi trước. Phần Ba, khi đến trại mới hay có lệnh từ trên Bộ Giáo Dục đề cử làm Trưởng trại. Chiều hôm đó,Ba họp “khẩn ” đại diện các trường để lập nội qui và kế hoạch điều hành Trại. Kế đến trong bửa cơm tối, ba tŕnh diện trước các trại viên và ra chỉ thị sau khi dùng cơm, tất cả phải về pḥng lấy giấy viết thư báo tin cho cha mẹ ở nhà an tâm....Tiếp theo là những chuổi ngày vui tắm biển, thăm viếng Lăng Ông, tham quan Nhà Pha trên đỉnh Núi Lớn.....khi cuốc bộ, úc ngồi xe...Tối đến là vui ca văn nghệ....nối tiếp nhau cho đến ngày chia tay. Và Ba đă thở phào nhẹ nhơm sau khi phái đoàn PTG trở về Trường đầy đủ và b́nh an....

Một lần nữa,dưới thời thủ tướng Trần Văn Hương ,Thầy Lâm Văn Giỏi (trong gia đ́nh tôi gọi là Bác Sáu) làm công cáng Ủy viên Chính Phủ, đă đề nghị Ba làm trưởng trại hè Ban Mê Thuộc cho học sinh trung học các tỉnh miền đông, v́ Bác tin tưởng Ba, nhất là khi phải tiếp xúc với các cấp "Trưởng " của Đồng Bào Thượng, nói với nhau toàn bằng tiếng Pháp.

Song song với công việc của Giám Thị (surveillant), Ba rất thích khảo cứu về bút tướng tâm lư học (Graphologie psycholoique). Ba là một hội viên của Sociéte de Graphologie de France. Khoa học này đă giúp Ba hiểu rỏ tánh t́nh, năng khiếu lẩn khuyết điểm của một số học sinh đặc biệt do Ba phụ trách giám thị....qua chữ viết và chữ kư tự nhiên của mỗi người trên những trang giấy không gạch hàng....Chúng tôi vẫn nhớ Ba thường nhắc đến câu của nhà phân tâm học Thụy Sĩ,Carl Jung: "Tâm tánh con người, ấy là số mệnh của người đó ”( Le caractêre de L’homme; c’est sa destinée)

Những ham mê hoạt động nào của Ba đều có sự đồng ư và yểm trợ tích cực của Mẹ phía sau, tuy Mẹ rất bận rộn và hoạt động nhiều hơn Ba nửa cho gia đ́nh và học đường.

Mẹ đảm trách những môn nữ công và kinh tế gia đ́nh từ Trường collège PTG cho đến khi trường ĐTĐ được thành lập, trải qua hai thống giáo dục cũ và mới, đổi thay theo vận nước...

Đầu năm 1983, Ba Mẹ cùng gia đ́nh chúng tôi rời quê hương sau khi được người Anh thứ năm, Bs Đỗ Mỹ Ánh, bảo lănh sang Mỹ đoàn tụ. Ba Mẹ tạm cư gần gia đ́nh Anh Chị ở miền Bắc của tiểu bang Texas.

Mẹ mất năm 1988 v́ bệnh panereas cancer (ung thư lá mía). Mấy năm sau, Ba phải bệnh Alzheimer, sống trong sự quên lăng của trí nhớ và đă "theo Mẹ " năm 2002.

Là phật tử, Ba Mẹ đă quy y tam bảo ở chùa Đàn Tiên Cần Thơ, trước ngày về hưu. Pháp danh của Mẹ là Mỹ Ngôn, Ba là Thiện Hải.

Sau đây chúng tôi xin ghi lại nguyên văn một đoạn trong thư (từ Việt Nam) của Giáo Sư Phan Văn Kha, thầy dạy chúng tôi những năm đầu tại Trường PTG:

October 3rd 2003

"....................................Được thư anh kèm theo ảnh tôi mừng lắm. Nh́n vào ảnh là tôi nhận ngay ra anh v́ anh quá giống Ba. Hồi về Cần Thơ, tuy chỉ ở được hơn bốn năm nhưng mối giao hảo giữa tôi và Ba Mẹ anh rất tương đắc tuy tôi chưa hề đến nhà Ba anh chơi. Ba anh rất thương tôi, coi như em út. Ba thường chụp h́nh và cho không tôi, ngày thường cũng như các buổi lễ. Tôi c̣n nhớ cái ngày tôi đọc bài nói về "Declaration des droits de l’homme "(Human Rights) Ba đă chụp cho tôi rất nhiều kiểu ảnh, Ba anh c̣n cho tôi mượn xe Vespa ngồi lên để chụp h́nh. Nói chung (chữ của mấy ổng) cả Ba và Mẹ đều là những người vui vẻ, dễ mến. Mẹ th́ lúc nào cũng tươi cười nhỏ nhẹ thật đúng là đôi người gương mẫu... Hồi Mẹ mất th́ tôi không được biết chứ hồi Ba mất tôi có đọc tin chia buồn trên các đặc san ở Mỹ và Úc gởi về, muốn gửi thư chia buồn cùng anh nhưng không biết anh ở đâu..............”

Đỗ Mỹ Thuật

Garland,Texas

Tet Giáp Thân 2004

 

THƯƠNG KÍNH CHÚ THÍM TƯ

ĐỖ VĂN CỦA

Kính thưa chú thím tư.

Con kính cẩn viết ít ḍng để tưởng nhớ đến chú thím.

Hai gia đ́nh chú thím Tư và Ba Mẹ tụi con đă thương yêu, khắn khít qua mấy chục năm trời ở Cần Thơ khi tụi con từ Ô Môn dọn lên Cần Thơ. Ba con là thầy giáo,được thuyên chuyển về làm việc ở ṭa hành chánh Cần Thơ. Con c̣n nhớ,dù lúc ấy con rất nhỏ, gia đ́nh con lên Cần Thơ trong sự bơ vơ, lạc lỏng, thời kỳ loạn lạc. Chú Thím Tư đă đùm bọc gia đ́nh tụi con ngay từ lúc đầu. Nhờ đó,gia đ́nh tụi con được ổn định dần dần.Các con của chú Tư như Đỗ Xuân Hồng, Đỗ Mỹ Ánh, Đỗ Mỹ Thuật, Đỗ Mỹ Thiện ………và tụi con sống chung trong 1 nhà như anh em ruột thịt.

Rồi thời cuộc đổi thay. Ba con bị thuyên chuyển về làm việc cho Phủ Tổng Thống, pḥng du học. Từ đó, tụi con, anh em họ Lê và họ Đỗ, vẫn luôn luôn gần gũi, giúp đỡ lẫn nhau trong một t́nh thương chân thành của chú thím Tư và Ba con. Quốc lộ 4 Sài G̣n - Cần Thơ. Dù giao thông khó khăn v́ chiến tranh, vẫn không làm ngăn cách t́nh thâm của hai gia đ́nh chú thím và ba mẹ tụi con, nhứt là những dịp lễ lộc vui buồn của cả hai bên.

Đám cưới của con,chú thím từ Cần Thơ về dự đầy đủ. Đám ma của ba mẹ con, chú thím đều đến khóc thương trước quan tài. Thế rồi, sau năm 1975, các gia đ́nh đều tan tác theo vận nước, mỗi người mỗi ngă chia ly. Mấy chục năm trời con không được tin tức ǵ của chú thím, nhứt là tin buồn chú thím đă ra đi. Con vô cùng buồn thảm và thương tiếc v́ không được thấp nén hương lạy tạ chú thím khi chú thím không con ở với tụi con.

H́nh ảnh quá khứ hiện về. Các thập niên 60/70, con làm giáo sư ở trường Nguyễn Đ́nh Chiểu, Mỹ Tho. Hàng năm, con được sự vụ lệnh về làm việc trong các hội đồng giám thị, giám khảo ở Cần Thơ, Chú thím Tư đă đón con về ở nhà chú thím, lo cho con từng bữa ăn đậm nét gia đ́nh. Con nhớ có một lần, không rơ năm nào, hội đồng chấm thi Cần Thơ xăy ra nhiều lộn xộn, một số thí sinh quân nhân "bùa phép trong pḥng thi " đón đường hành hung các giáo sư giám thị (trào đại tá tỉnh trưởng Phạm Bá Hoa). Chú thíếm Tư đă vô cùng lo lắng cho an ninh của con, sai Đỗ Mỹ Thuật đến trường Phan Thanh Giản “hộ tống ” con về. Nhớ thương chú thiếm Tư quá.

Sau năm 1975, con làm việc ở trung tâm học liệu Sài G̣n chung với Đỗ Xuân Hồng. Hai anh em con thỉnh thoảng có dịp về Cần Thơ công tác, khi đó con lại có dịp ở nhà chú thiếm. Lần này đặc biệt hơn, chú thiếm Tư dành cả buổi trời xem chữ kư cho con. Cho tới ngày nay, con vẫn c̣n nhớ những lời dạy bảo của chu thiếm Tư qua việc xét đoán chữ kư và số tử vi của con.

Nhớ tới nay, con không sao quên được 1 việc có lẽ con làm chú thiếm Tư buồn. Năm đó,c on được lịnh về trường Phan Thanh Giản Cần Thơ để làm giám khảo hạch miệng (oral) môn Anh Văn cho tú tài II. Để tạo tiện nghi, tiện lợi và an toàn cho con, bạn con là giáo sư hiệu trưởng Nguyễn Trung Quân sắp đặt cho con ở tại nhà ông. Chú Tư biết trước, đă sắp đặt cho con về nhà chú thiếm để ở và lo lắng cơm nước như mọi lần…..vậy mà con không về nhà chú thiếm. Chú thiếm buồn con v́ lo cho con. Con đến xin lỗi và được chú thiếm rộng long tha thứ.

C̣n nữa,có 1 việc con đă kể cho chu thiếm Tư nghe,chú Tư theo dơi câu chuyện lo âu và …..nhẹ nhơm khi con kết thúc : "Con đang ở trong pḥng hội đồng thi trường PTG th́ giáo sư Trần Kim Quế (chánh chủ khảo) bạn con, hơ hải chạy vào: Thứ ơi có hai tay sĩ quan thủy quân lục chiến muốn t́m bồ. Chưa kịp trả lời th́ 2 tay trung úy súng ống đầy đủ chạy tới….. "Thầy nghe vài quân nhân lộn xộn với giáo sư gác thi, tụi em chạy vô đây coi thầy có sao không."th́ ra 2 học tṛ cũ của con ở Ngyuễn Đ́nh Chiểu - Mỹ Tho chạy vào để bảo vệ con”. Chú Tư nghe xong vui mừng, nhẹ nhơm v́ con…..không sao.Chỉ bấy nhiêu đó thôi mà con thương nhớ chú thiếm Tư vô cùng.

Gần đây, nhờ hội ái hữu Phan Thanh Giản/Đoàn Thị Điểm(Cần Thơ), con liên lạc được với Đỗ Mỹ Thuật và Đỗ Mỹ Thiện. Chúng con lại nối tiếp ṿng tay yêu thương của hai gia đ́nh. Trong 1 thư, Thuật viết cho con: "…Em gởi kèm theo đâyảnh vợ chồng em với hai 2 cháu ngoại, xem anh c̣n nhận ra em hồi thuở ấy không? Năm nay em đă 61 tuổi rồi. C̣n anh đă thất thập cổ lai hy chưa? Con gái em năm nay đă 29 tuổi. Vợ em là Lương Lang, cựu nữ sinh PTG/ĐTĐ Cần Thơ, là học tṛ của mẹ em, tốt nghiệp sư phạm Vĩnh Long". Thuật viết một câu rất dễ thương để nhớ: "Chuyện đời xưa và nay c̣n rất nhiều để ôn nhớ và kể lại. Chúng em hy vọng sẽ có ngày cho "thuyền viễn xứ" ghé Úc Châu và gặp lại anh chị. Mong thay. Em sẽ cho Thiện biết để t́m lại Anh, chắc Thiện sẽ mừng lắm (Đỗ Mỹ Thiện đă liên lạc với anh rồi). Bao năm qua, “ngh́n trùng xa cách",giữa anh và chúng em có biết bao chuyện để nói và kể cho nhau nghe như mới ngày nào gặp nhau vui đùa bên cạnh cha mẹ ,rồi thoáng qua như một giấc mộng, nh́n lại thấy ḿnh bơ vơ, mồ côi và đang bước dần trên đường của cha mẹ đă đi qua.C̣n nhiều lắm để tâm sự với anh. Đỗ Mỹ Thiện đă sang Dallas ba lần để thăm ba mẹ và tiễn đưa ba……."

Chú Thiếm Tư ơi! Thế là cả anh em tụi con thuộc hai gia đ́nh….đă thực sự mồ côi cả cha lẫn mẹ. Bây giờ tụi con đang t́m lại nhau sau hơn 40 năm xa cách. Tuy Chú Thiếm Tư và Ba Mẹ tụi con lúc đầu chỉ là do t́nh bạn thân thiết đúc kết thành rồi dần dần chú thím và ba mẹ tụi con trở thành anh em kết nghĩa….nhưng tụi con luôn coi chú thiếm Tư như là cha mẹ ruột của ḿnh.

Chúng con sẽ nối tiếp 2 thế hệ của gia đ́nh thành t́nh thâm như lúc chú thím và ba mẹ con c̣n sinh tiền. Mong Chú Thiếm và Ba Mẹ con luôn an b́nh trong cơi vĩnh hằng.Thương kính chú thiếm muôn đời.

Kính thương.

Con

Lê Phú Thứ .

 

Ái Hữu Phan Thanh Giản tṛn 50 tuổi

Nhớ người muôn năm cũ

Như chúng ta biết, Phan Thanh Giản là một trong những ngôi trường kỳ cựu ở miền Nam chỉ sau Nguyễn Đ́nh Chiểu (1879), Trường nữ học đường, tức Gia Long (1913) nhưng trước Pétrus Kư (1925). Đồng thời đây cũng là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài không kém bất cứ trường nào dù trước đó hoặc sau nầy v́ nằm ở vị trí thuận lợi thu hút được những tinh hoa hiếu học của cả miền Tây rộng lớn. Nhưng điều đáng nói, đáng tự hào nhất là những thế hệ nhân tài nầy khi rời trường để ra giúp nước giúp đời, dù có địa vị cao ở nhiều lănh vực chính trị, quân sự, văn hoá…trong xă hội vẫn không quên nguồn cội, nơi ḿnh xuất thân là trườngPhan Thanh Giản, nên dù có bận rộn công vụ, trách nhiệm vẫn ngồi lại với nhau để thành lập Hội ái hữu cựu học sinh Phan Thanh Giản (trên pháp lư là Ái hữu cựu học sinh Trung học Cần Thơ – xem nghị định ở sau), nhằm trước hết để tạo điều kiện cho các thế hệ đồng môn có dịp gặp gỡ nhau, tương thân tương trợ khi rời trường, để thăm viếng gặp lại quư thầy cô đă có công dạy dỗ như một phần của sự báo đáp và quan trọng hơn hết và cũng là mục đích chính của Ái hữu : là tạo điều kiện giúp đỡ các thế hệ em cháu con nhà nghèo hiếu học đang theo học tại trường Phan Thanh Giản, bằng cách vận động quyên góp trong đồng môn, thân hữu để cung cấp tập vỡ, học bổng hằng năm cho trường Phan Thanh Giản và sau nầy là Phan Thanh Giản và Đoàn Thị Điểm.

Trong tinh thần và ư hướng cao cả của các bậc đàn anh đó, Ái hữu Phan Thanh Giản Cần Thơ đă được nhen nhúm khởi đầu từ 1953 và chính thức được thành lập ngày 14 tháng 12 năm 1954. Đây là giai đoạn biến động của lịch sử nước ta, giằng co giữa hai thế lực quốc tế để rồi khi đượctrở thành là một quốc gia độc lập, được trao trả từ tay thực dân Pháp, cũng là lúc đất nước bị chia cắt bởi hiệp định Gèneve. Trong bối cảnh rối ren như thế mà các bậc huynh trưởng PTG chúng ta vẫn tiến hành cho Ái hữu PTG được chào đời thật là một kỳ công, nói lên tinh thần, thiện chí và nhất là tấm ḷng đối với trường, thầy, bạn và các thế hệ con cháu tương lai. Một việc làm vừa có thủy, có chung và có t́nh có nghĩa … Cũng cần nói thêm, Ái hữu PTG là một hội được thành lập đầu tiên ở miền Nam, sau ngày độc lập, từ đó các trường khác mới nối gót và đi đến Ái hữu liên trường ra đời 10 năm sau (1964). Đi xa hơn, chính từ tinh thần ái hữu PTG nầy của những bậc đàn anh, mà Đại Học Cần Thơ đă đượcchào đời cuối thập niên 60 do quá tŕnh vận động bền bỉ và quyết tâm của những người xuất thân từ miền Tây, cụ thể là cựu học sinh PTG, trong đó có giáo sư Nguyễn Trung Quân, vừa là học tṛ, giáo sư, Hiệu Trưởng của trường. Trở lại Ái hữu PTG, rải rác qua các tài liệu mà Đặc san PTG – ĐTĐ Úc châu có được, tính từ thành lập đến 1964 th́ mặc dù có những khó khăn khách quan về thời cuộc, Hội đă họp đại hội thường niên được 7 kỳ (trong 10 năm), tới năm 1973 th́ tập san Ái hữu PTG phát hành đuợc 14 số (trong 20 năm). Qua số liệu đó, tuy không thường xuyên được mỗi năm với Đại hội và phát hành Đặc san (lúc đó gọi là Tập san), nhưng đă nói lên được sự cố gắng phi thường của những người lănh đạo Hội mà Ban Chấp Hành được bầu trong mỗi lần đại hội theo điều lệ th́ nhiệm kỳ là một năm và sự đóng góp hổ trợ tích cực của các thế hệ đồng môn sau khi rời trường Phan Thanh Giản. V́ chiến tranh mỗi ngày một gia tăng và trở nên khốc liệt như chúng ta ai cũng đă biết. Trong số những bậc niên trưởng PTG đă đóng góp phần cố vấn, lèo lái con thuyền Ái hữu trong suốt 2 thập niên cho đến 30/04/1975, nay vẫn c̣n sức khoẻ như giáo sư Phạm Hoàng Hộ, hoặc đă quá văng như giáo sư Nguyễn Duy Xuân và mới măn phần ở Houston gần đây như niên trưởng Lưu Phương Thinh…và không thể nào quên được người vừa là thành viên sáng lập vừa là cố vấn, vừa mạnh thường quân của Hội là bác sĩ Phạm Kim Tương, em thứ năm của giáo sư Phạm Kim Liêu. Có thể nói ông bà Bác sĩ đă dành trọn 20 năm cuộc đời v́ Hội, cho Hội, từ thành lập cho tới 75, và Hội ngừng hoạt động. Tất cả chúng ta, xin cùng nhau thấp nén nhang ḷng để tưởng niệm ông bà trong dịp Ái hữu Phan Thanh Giản tṛn 50 tuổi nầy như một vinh danh bậc khai sáng của Hội. Rất tiếc Đặc san PTG-ĐTĐ Úc Châu không có được tài liệu chi tiết về bác sĩ. Ông sinh 1911 và mất 1979 trước thầy Phạm Kim Liêu 1 năm. Chúng tôi sẽ có bài kỷ niệm về ông bà Bác sĩ như "Những người muôn năm cũ" trong những Đặc san sau. Để kỷ niệm lần thứ 50 sinh nhật Ái hữu PTG chúng ta xin nghiêng ḿnh kính cẩn mặc niệm và vinh danh chung các bậc khai sáng, điều hành của Hội là NNMNC của đồng môn Phan Thanh Giản. Tuy rằng trên thực tế từ tháng Tư1975 Ái hữu Phan Thanh Giản đă "đi theo vận nước" như cụ Phan ngày xưa khi Vĩnh Long và 3 tỉnh miền Tây mất vào tay Pháp; và công ơn những ngườ khai sinh, nuôi dưỡng cho Hội trưởng thành vẫn luôn tồn tại trong ḷng mọi thế hệ PTG như niềm tự hào bất diệt. Dưới lớp tro bụi của thời gian, của trớ trêu lịch sử và định mệnh của đất nước, trong hơn 20 năm từ 1975 đến 1996, tưởng đâu bếp lửa ái hữu đồng môn Phan Thanh Giản đă tắt ngấm. Nhưng không, những ḥn than nghĩa t́nh vẫn âm ỉ cháy để rồi đuợc khơi lại từ Đại hội I ở Houston trong dịp kỷ niệm 80 năm thành lập trường. Mặc dù ngọn lửa truyền thống ái hữu đó chưa được rực sáng và chói lọi như trước năm 1975, đất nước chưa có tự do dân chủ và những giá trị truyền thống của dân tộc c̣n bị lăng quên, huỷ hoại bởi những người đang có thẩm quyền, khi chúng ta c̣n sống lưu lạc xứ người chưa có điều kiện khôi phục toàn vẹn ái hữu Phan Thanh Giản như mục đích cao cả của các bậc cha anh đă làm.

 

 

Niên trưởng Nguyễn Thành Nghĩa

Hai mươi năm cho Ái hữu PTG – ĐTĐ

 

Bác Năm Tương là linh hồn của Hội, nhưng người đứng mủi chịu sào và lèo lái con thuyền Ái hữu Phan Thanh Giản trong 2 thập niên qua chính là niên trưởng Nguyễn Thành Nghĩa. người mà đồng môn ái hữu đương thời vẫn thường gọi bằng "Anh Tám Hội Trưởng" thân mật và rất miền Tây theo thứ bậc trong gia đ́nh v́ niên trưởng vốn thứ 8, là em kế của niên trưởng Nguyện Thành Các ở Melbourne. Niên trưởng Nguyễn Thành Nghĩa sinh năm 1917 tại làng Định Yên, Lấp Ṿ, Long Xuyên (Lấp Ṿ sau thuộc Sa Đéc). Về sau th́ gia đ́nh chuyển về tại chợ Long Xuyên. Do sự trùng hợp ngẩu nhiên với năm thành lập Trường Phan Thanh Giản cũng là sự tiền định nên niên trưởng có số gắng liền với Trường sau nầy. Vào năm 13 tuổi (1930) cùng "anh bảy Các" thi vào Collège de Cantho mà thân mẫu vẫn mong cho 2 người rớt v́ lo không đủ khả năng đóng học phí nội trú cho 3 người( lúc đó c̣n có người anh thứ 6 đang học ở Sài g̣n). V́ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới phải bán 4 ngàn giạ lúa mới đủ học phí cho 1 tam cá nguêỵt (3 tháng). Nhưng rất may cả 2 đều đậu đề hai mươi bốn năm sau góp phần khai sinh và điều hành, phát triển Hội Ái hữu cho Trường Phan Thanh Giản một cách tận tuỵ và tài ba. Năm 1934, niên trưởng ra trường và làm việc tại Sở Quản Thủ Điền Thổ Bạc Liêu, sau đó chuyển về Sài g̣n làm ở sở Bách Phần (Thuế vụ). Từ năm 1954 đến 1975 niên trưởng là công chức của Bộ Tài Chánh Việt Nam Cộng Hoà lần lượt với các chức vụ Thanh tra tài chành, chánh sở Hành Chánh, Tổng Nha Thuế Vụ, Giám đốc Nha Thanh Tra Thuế Vụ. Niên trưởng mất năm 1976 tại Việt Nam chưa tṛn 60 tuổi. Có tất cả 6 người con: 4 trai, 2 gái. Hiện phu nhân của niên trưởng và các con đang sống ở Pháp và Bỉ, trong đó có 2 con trai là cựu phi công Quân Lực VNCH.

Niên trưởng Nguyễn Thành Nghĩa là người đầu tiên cùng đứng ra thành lập Hội Ái Hữu Trung Học Cần Thơ với bác sĩ Phạm Kim Tương, giáo sư Nguyễn Duy Xuân (sau nầy là viện trưởng Đại Học Cần Thơ, Tổng Trưởng Kinh Tế, chết trong tù cải tạo ở miền Bắc) và các niên trưởng đứng tên trong đơn xin lập hội mà nghị định trên có ghi. Chúng tôi chưa t́m được tài liệu chính thức, nhưng căn cứ theo thứ tự trong danh sách đó, ta có thể hiểu niên trưởng là Hội Trưởng lâm thời trong giai đoạn h́nh thành và cũng là Hội trưởng đầu tiên của tôi. Và qua các Tập san mà hội phát hành trong mỗi lần đại hội hàng năm hiện chúng tôi có được th́ niên truởng Nguyễn Thành Nghĩa cũng là chủ tịch của Hội trong các nhiệm kỳ 1962 - 1963, 1963 – 1964, 1966 - 1967; nhiệm kỳ 1967 – 1968 là bác sĩ Đinh Văn Cản. Tiếp theo niên trưởng là chủ tịch nhiệm kỳ 1972 – 1973, 1973 – 1974. Như vậy, ít nhất niên trưởng Nguyễn Thành Nghĩa đă được tín nhiệm trong vai tṛ điều hành Hội 7 nhiệm kỳ, trong suốt 20 năm hoạt động của Ái hữu PTG. Cần nói thêm, theo nguyên tác nội quy th́ Đại hội ái hữu và Bầu ban chấp hành cho hội diễn ra hàng năm, nhưng có năm không tổ chức được đại hội và phát hành Tập san v́ những biến cố chính trị trong nước như đảo chánh hay chiến cuộc gia tăng như Tết Mậu Thân…th́ ban chấp hành cũ lưu nhiệm và Hội vẫn hoạt động đều đặn liên tục, cho nên niên trưởng la vị chủ tịch thâm niên nhất của hội và những năm không giữ vai tṛ đầu đàn th́ cũng luôn luôn sát cánh với Hội trong vai tṛ cố vấn. V́ vậy, niên trưởng cũng như bác sĩ Phạm Kim Tương đă gắn liền cuộc đời ḿnh với Hội cho tới tháng Tư năm 1975.

Theo lời niên trưởng Nguyễn Thành Các cho biết th́ suốt thời gian đó, ngoài công việc trong chức vụ ở Bộ tài Chánh, "chú Tám nó đă dành tất cả mọi hoạt động cho hội ái hữu bất kể gia đ́nh để thiếm nó lo”. Bên cạnh việc tổ chức Đại hội và phát hành Tập san hàng năm, ông c̣n liên lạc khắp nơi, các tỉnh, các ngành, hành chánh, quân sự, đoàn thể, công thương kỷ nghệ gia, đồng môn hoặc thân hữu cổ động thu nạp thêm hội viên, vận động tài chánh, sách vở để hàng năm trợ cấp học bổng, giúp đở giấy mực cho các con em nghèo hiếu học, và con em cô nhi, quả phụ, tử sĩ đang theo học tại trường Phan Thanh Giản - Đoàn Thị Điểm, phát thưởng cuối năm cho các học sinh giỏi. Ngoài ra, các em cháu khi rời trường chập chững bước vào đời, vào lính , hay vào đại học hoặc ra trường kiếm việc làm rất cần sự hướng dẫn hổ trợ đều được niên trưởng chỉ dẫn giúp đỡ tận t́nh đến nơi đến chốn như con cháu trong nhà.

Với tấm ḷng và sự cống hiến cao cả đó của niên trưởng Nguyễn Thành Nghĩa thật quả xứng đáng cho cựu học sinh PTG – ĐTĐ mọi thế hệ nghiêng ḿnh ngưỡng phục và tri ân. Những người cùng xuất thân PTG-ĐTĐ chúng ta có quyền hănh diện là đồng môn của anh Tám Hội trưởng, có trăn trở hay ray rức nào chăng một khi chúng ta có được niềm tự hào đó? Người viết xin nhường câu trả lời cho quư đồng môn và hơn lúc nào hết, đây là giai đoạn mà t́nh thân ái hữu cần được duy tŕ để một mai khi nước nhà quang phục th́ nghĩa t́nh và truyền thống đó của niên trưởng Nguyễn Thành Nghĩa nói riêng và Ái hữu PTG – ĐTĐ Cần Thơ nói chung đượcđời đời tiếp nối mỗi ngày một phát triển và vẻ vang hơn.

Bùi Trường Hiệp

 

BBT rât mong được quư thầy cô và đồng môn cung cấp thêm chi tiết, tài liệu, h́nh ảnh về Hội ái hữu cự học sinh Phan Thanh Giản - Đoàn Thị Điểm Cần Thơ, để bổ sung trên Đặc san Úc châu những số tới như là một phần sử liệu về hội ái hữu của trườngḿnh lưu lại cho mai hậu.

Đặc san PTG – ĐTĐ Úc châu

 

Cuộc đời và sự nghiệp

của nhà giáo Phạm Kim Liêu

 

Tôi xin mượn trang giấy này để ghi nhớ một người suốt đời gắn bó với trường Phan Thanh Giản và đă góp phần đào tạo nhiều học tṛ thành người hữu dụng cho xă hội. Ngoài ra cũng nhân cơ hội này nói lên ḷng tri ân của chúng tôi đối với những ân nhân đă một thời giúp đở Cha tôi và gia đ́nh trên mọi phương diện, mà lắm khi chúng tôi chưa dịp báo đáp.

Ba tôi, Ông Phạm kim Liêu, sanh năm 1907, tại xă Hội An (Cái Tàu Thượng), quận Chợ Mới, tỉnh Sa Đéc (sau này thuộc tỉnh An Giang). Là con thứ tư trong gia đ́nh nghèo, đông con, kế đến là Chú Năm, Bác sĩ Phạm kim Tương, Chú Chín, giáo sư Phạm kiêm Âu (Huế) là những người được ít nhiều người biết đến.

Thủa thiếu thời, Ba tôi học tại College de Cantho, sau này đổi tên làTrung học Phan Thanh Giản Các chú cũng học tại College de Cantho.

Sau khi tốt nghiệp bằng Diplôme (DEPSI: Diplôme d'etudes primaires supérieures indochinoise), Ba tôi thi đậu vào trường Công Chánh HàNội (Ecole Supérieure des Travaux publiques). Năm 1938, thế giới lâm vào cơn khủng hoảng kinh tế trầm trọng, Đông Dương cũng không thoát khỏi tệ nạn đó. Gia đ́nh Ông nội khánh tận, Cha tôi phải bỏ học, về quê trong Nam làm thầy giáo nuôi cha mẹ già và các em ăn học. Ba tôi dạy Tiểu học tại Xă Hội An (Cái Tàu Thượng). Hàng tháng Ba tôi phải lội bộ đoạn đường dài đến tỉnh Sa Đéc để lảnh lương và lội bộ về.

Năm 1939, Ba tôi xin thuyên chuyển về Cầnthơ, làm việc tại trường College de Cantho.

Năm 1945, Nhật đảo chánh Tây, và Việt Minh vùng dậy..., giặc giă khắp nơi, Ba tôi bỏ Cầnthơ mang gia đ́nh tản cư về quê mẹ tôi để lánh nạn tại Cái Muồng, rồi Bang Thạch (Xă Long Thạnh), rồi Xẻo Ṃn, đến Giồng Riềng (Rạch Giá). Sau cùng t́nh h́nh tạm yên, Ba tôi lần ṃ quay về Cầnthơ, thuê nhà ở gần cầu Rạch Ngổng để đi dạy.

Khoảng cuối năm 1946, Tây trở lại Đông Dương, bọn lính đầu đỏ (Partisan- thân binh, người Việtnam, làm cho Tây- đầu đội calot đỏ) bắt giam cha tôi cùng với anh em ông chủ tiệm tạp hóa, để làm tiền, vu khống là Việt Gian, cho là Ba tôi chong đèn ban đêm làm mật hiệu cho Việt Minh, nhưng thực ra Ông đang soạn bài hoặc chấm bài cho học tṛ. Sau thời gian bị giam giữ, cha tôi được Ông Hiệu trưởng Nguyễn bá Cựng lảnh về.

Ba tôi lập tức dọn ra trung tâm thị xă Cầnthơ, tạm trú tại nhà bếp của trường Nữ Tiểu học, nằm cạnh đường Pétrus Kư - gần ṭa án. Lúc bấy giờ trường Nữ chỉ gồm hai dăy nhà gạch, quân đội Tây đang chiếm giữ làm Câu lạc bộ sĩ quan. Nhà bếp là căn nhà nhỏ đang bỏ trống. Nhờ sự giúp đở tận t́nh của Ông thanh tra Học Chánh Huỳnh văn Dậu nên gia đ́nh của cha tôi được trú ngụ dài hạn tại đây cho đến khi cha tôi cất được căn nhà sàn (ba gian, hai chái) liền cạnh nhà bếp này, số 2 đường Pétrus Kư, ngang cây da ṭa án Cầnthơ. Sở dỉ, tại thành phố mà cất nhà sàn, v́ nơi đây đất trủng, thêm vào cống rảnh không tốt, nên thường nước ngập đến mắt cá chân sau những trận mưa to. Thêm vào đó, có lẻ để gợi lại kỹ niệm thời gian Ba tôi đă từng ở nhà sàn tại ṢiRiêng (Cao Miên). Căn nhà được hoàn thành nhờ sự giúp đở của quư Ông Phó Tỉnh trưởng Tạ văn Ấm (cấp giấy phép xây cất), Ông Đốc Công Trần văn Hiếu (vẽ họa đồ), Ông anh bà con Huỳnh Công Thiệu (mà chúng tôi thường gọi là Anh Hai Thiệu)- biệt danh là Công Tử Cầnthơ (cho mượn tiền), Ông Nguyễn văn Nhiều (Chủ nhà sách Văn Nhiều) tặng nhiều bức tranh lộng kiến có giá trị trong ngày Tân gia. Sau này cất thêm phần nhà lầu kế bên. Hiện nay đă mục nát nhiều, v́ thiếu sửa chửa.

Lúc đó đường Luro (đường Hàng Xoài, sau này là Đại lộ Hoà B́nh), chưa được tráng nhựa, Xoài hôi được trồng để che mát, nhà cửa thưa thớt, có thể nh́n thấy đám ruộng ở cuối đường Huê Viên. Chùa Phật học chưa được xây dựng, cũng như trường Nữ vẫn c̣n đơn sơ.

Ba tôi phục vụ tại Trường Phan với chức vụ Surveillant (Giám thị). Sau này v́ thiếu giáo sư nên được đề cử làm Phụ Trách Giáo sư (chargé de cours) các môn Sử Địa, Công Dân cho các lớp 1re và 2e année, 5e, 6e moderne, và sau cùng các lớp đệ thất. Hàng năm, cha tôi được cử đi chấm thi, làm giám thị, hoặc đôi khi làm giám khảo các cuộc thi hạch miệng (oral). Ba c̣n dạy Công dân, Sử địa ở trường Thủ Khoa Huân, Vơ Văn, trong nhiều năm (từ 1958).

Suốt đời sống thanh bạch, chưa từng xem coi hát xướng, nêu gương mẫu mực cho con cái, tránh liên quan hay bàn bạc vấn đề chính trị (v́ có lần đă bị chụp mũ và bị bắt). Tận tụy với chức năng của một nhà giáo, ảnh hưởng nhiều bởi tư tưởng Khổng Mạnh, thường giúp đở mọi người, và thương học tṛ như con.

Cha tôi luôn trợn mắt, hâm he phạt" cồng xin". Lúc nào trong túi áo cũng có quyển sổ nhỏ, mà cha tôi hay nói là sổ "bià đen", ghi tên phạt không biết bao nhiêu học tṛ "tinh nghịch", "phá khuấy", và cứ im ĩm như vậy, làm các cậu bị vô sổ b́a đen ăn không ngon, ngủ không yên, không dám tái phạm, v́ đang có bản án treo. Đến cuối năm Ba tôi bỏ đi và hầu như không thật sự phạt mấy ai. Một số học tṛ đang thời khôi hài cho nên lén đặt Ba tôi biệt danh là Ông Thần Cây Da ( v́ nhà Ba tôi ở cạnh Cây Da- bên hông Ṭa án). Nhưng rồi, mỗi dịp Tết đến, các học tṛ cũ, bây giờ là những sĩ quan cao cấp, hay những giới chức quan trọng trong Chính Phủ VNCH, thường đến thăm ông, kính cẩn và biết ơn. Sau năm 75, một vài cán bộ "gộc" đến thăm thầy cũ làm Ba tôi một phen mất vía. Điều này cho thấy Ông Thần Cây Da không phải là Hung thần.

Trong các kỳ thi tam cá nguyệt, lục cá nguyệt, Ba tôi có nhiều sáng kiến "dễ chọc cười thiên hạ" để bắt các "con rùa" đánh phép hay "cọp dê", kêu gọi đám học tṛ chúng tôi dùng những body language như lấy ngón trỏ dụi mũi, găi tai, để chỉ hướng con rùa đang dở bùa bên trái hay bên phải v..v...hoặc ra đề bài khác nhau cho hai người ngồi cạnh nhau (tránh cọp dê).

Ông tận tụy với nghề nghiệp, hi sinh những giờ riêng tư của gia đ́nh, cho học tṛ đến nhà chép bài trước và chuyền nhau, để đến lớp không phải mất th́ giờ chép bài tại lớp. Ông không muốn học tṛ phải tốn tiền mua sách, nên Ông phải tự soạn từ sách Tây và Việtnam ra bài riêng của Ông - Ông dành giờ đó để giảng dạy nào gió mùa xoay chuyển như thế nào, trời mưa, trời nắng, ḍng nước nóng, nước lạnh, Gulf Stream chảy ra sao và ảnh hưởng như thế nào đối với khí hậu v..v... vừa dạy vừa pha tṛ, để học tṛ tức cười, đở buồn ngủ. Gần như trong giờ dạy của Ông là cả lớp vui nhộn, một vài cậu tinh nghịch, nhân dịp chọc phá, thế th́ Ông trợn mắt đ̣i phạt "cồng xin" làm các cậu co ṿi. Tại nhà, Ba tôi viết nhiều câu Hán Việt và thường ngâm nga để nhắc nhở Ông mà tôi c̣n nhớ lỏm bỏm: "Giáo bất nghiêm, sư chi nọa", "Phụ nhơn nan hóa", "Nhơn chi sơ, tánh bản thiện" hay cay đắng t́nh đời "Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhơn, nhơn trả oán", "Phú qúy sinh lễ nghiă" v..v...

Nói về sở thích th́ cả đời Ông chỉ thích đọc sách. Nhà của Ông là cả một thư viện nhỏ, gồm đủ loại sách Pháp, Việt và Hán Việt.

Đây là lư do tại sao Ông Chủ Nhà Sách Văn Nhiều là bạn thân của Ông- v́ cha tôi là thân chủ thường xuyên trong mấy chục năm liền. Hể có sách mới là Ba tôi lại mua. Quyển tiểu thuyết đắc ư là Les miserables. Nhà văn Ông thích là Victor Hugo. Thức ăn khóai khẩu là: Ḿ khô, với vài cọng hành tươi cùng hột cải vàng bỏ lên trên. Thể thao: đi bộ trước nhà. Để tiêu sầu là làm việc không ngừng nghỉ. Không rượu, thuốc lá, cà phê. Ghét bài bạc. Ông thường răn dạy chúng tôi: Bài bạc là Bác thằng Bần.

Ba tôi thường nói:" Học tṛ cần thi đậu, để có bằng cấp làm cần câu cơm hay học lên trên...nên tao giúp tụi nó khi có dịp, v́ tao xuất thân từ gia đ́nh nghèo, ông nội làm thợ bạc, không đủ ăn, nên thấu hiểu hoàn cảnh..." Có lần Ba tôi kể chuyện về giáo sư VVL., dạy Pháp văn ở Ság̣n, nổi tiếng về "hạ búa" tàn sát thí sinh...hầu hết các thí sinh gặp Ông th́ kể như đời tàn, "lúa" luôn. Ba tôi than thở:"làm ác như vậy làm chi...nên để đức cho con, cháu".

Sau này, tôi gặp Trung Tá Phạm văn T., cựu Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Cái Vồn (B́nh Minh - Vĩnh Long), nhắc măi:

" Anh nhớ Thầy qúa...hồi đó đi thi hạch miệng, gặp Thầy...Thầy nói thuộc bài nào th́ trả bài đó. Anh chọn Le Mékong...Thầy không vặn hỏi ǵ, mà lẳng lặng cho điểm rất khá..." Anh T. và Chị H. (phu nhân của Anh) hiện đang cư ngụ tại California (Hoa Kỳ).

Về chính trị, Ba tôi bao giờ cũng rất dè dặt và kín đáo "thủ khẩu như b́nh". Chủ trương không biết, không nghe, không thấy! Suốt cuộc chiến Quốc - Cộng, Ba tôi không bao giờ nói đến phía bên kia, nhưng khi hay tin học tṛ cũ theo bên trong hay ở bên này gục ngă trên chiến trường, Ba tôi buồn bă và than:"tụi nghiệp cho tụi nó, bao giờ có ḥa b́nh...dứt tiếng súng đây?! Hởi ôi nhất chiến công thành, vạn cốt khô".

Sau ngày Miền Nam"sập tiệm", một cuộc đổi đời lớn cho tất cả dân Miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào). Cha tôi như mọi người công chức khác bị mất tiền hưu, sống bửa cháo, bửa rau, bo bo làm chuẩn. Bán bàn, tủ, ghế, giường để đổi lấy vài lít gạo.Nhà trống càn thêm trống: tất cả anh em tôi đều vào ḷ cải tạo, mang theo một tháng tiền ăn mà đi biệt "mút chỉ cà tha". Lúc đó, có người bà con, Ông Ba C. (mà chúng tôi vẫn thường gọi là Bác Ba) là cán bộ cao cấp của tỉnh đến thăm và nói với Ba tôi:"Tao nghe nói mấy đứa nhỏ đang đi học tập, mầy cho tên, cấp bực, chức vụ lúc trước và đang cải tạo ở đâu, để tao vận động cho tụi nó được về sớm...,mầy hiểu, tao không tiện nói nhiều, ". Ba tôi lặng người hồi lâu rồi nói với Bác Ba: " Cám ơn Anh Ba có ḷng, nhưng tôi không dám cậy nhờ Anh Ba đâu, thôi th́ để tụi nó ráng chịu vậy..."

Về sau, gặp tôi trong khi điểm tâm tại nhà hàng Việt Hồng (Cầnthơ), Bác thuật lại câu chuyện đó và kết luận:" Ba mày chịu chơi thiệt... thà chấp nhận đau buồn mà không van xin, nhờ vă. Y như con sói của Alfred de Vigny (Bác Ba đă từng học tiếng Tây)..tao rất phục...!"

Tôi là người cuối cùng trong gia đ́nh được thả ra từ trại tù Cải tạo sau gần 6 năm miệt mài "lao động vinh quang". Ba tôi chống gậy qua nhà gặp tôi:" Thôi về rồi tao mừng, mầy phải sống trong dè dặt..." rồi bồi luôn một câu: "Mầy nhớ Après la pluie, c'est le beau temps...". Hôm sau Ba tôi bảo ngồi kế bên và nói nhỏ: " Mầy c̣n nhớ Ông Cam (giáo sư Dương Du Cam) đă dạy tụi bây: Trúc tuy cháy, tiết ngay vẫn để(1). Liệu mà sống cho phải đạo làm người, không hổ thẹn với lương tâm"

Tôi về nhà được ba ngày, chưa hàn huyên được ǵ nhiều, th́ ngày thứ tư Ba tôi ngả quỵ, không thở được và qua đờ́ sau đó v́ đứt mạch máu năo và trút hơi thở cuối cùng trong ṿng tay tôi lúc 12giờ 30 trưa ngày 2-12-1980.

Tang lể được lo lắng chu đáo, giản dị và trang nghiêm nhờ:

- Chú Ong văn Hồng (Tám Hồng), một nghiệp chủ cùng quê ở Cái Tàu Thượng.

- Sư Ông Thích Minh Châu (thầy Bảy Châu) làm lễ nhập quan.

-Các anh học tṛ cũ Trần hiếu Liêm và anh Thế An lo xe tang và chạy mua xăng "chợ đen", túc trực ngày đêm giúp chúng tôi.

- Nhóm niệm kinh ở Chùa Đàn Tiên đến cầu siêu.

Người thân quen, bạn đồng nghiệp và học tṛ cũ của cha tôi, đến viếng tang ngày đêm.

Sau khi lễ động quan, Anh Liêm cho xe tang chạy qua trường Phan Thanh Giản và Đoàn thị Điểm cho Ba tôi được thăm từ giă lần cuối cùng, nơi mà Ông đă gắn bó cả đời với tất cả tâm huyết của một nhà giáo. Sau cùng xe trực chỉ về Xă Long Thạnh (quận Phụng Hiệp) để người được an táng nơi nghiă trang gia đ́nh.

Từ đó chúng tôi, mỗi người mỗi ngả, đứa vượt biên, đứa ở lại. Mộ cha tôi nằm đó quạnh hiu. Mỗi mùa nước nổi, đất bị xoi ṃn gần đến phần mộ.

Ngày 6-4-2002, gia đ́nh quyết định bốc cốt và hỏa thiêu. Tro cốt được gởi vào Chùa Hội Linh, tọa lạc trên đường đi B́nh Thủy, qua khỏi chợ An Thới, phía tay mặt. Từ đây, nắm tro tàn của Ba tôi được an vị, sớm chiều nghe kinh kệ, mà lúc c̣n sống ít khi Ba tôi có dịp lui tới chùa chiền.

Những ḍng trên đây nhằm tưởng niệm một nhà giáo tận tụy, một người cha mẫu mực, đạo đức, hiền lành, một người con chí hiếu và cũng là một kẻ sĩ chân chính khi nước mất nhà tan.

P. M.

(1) Trích trong bài Văn tế Vơ Tánh Ngô tùng Châu.