tâm
sự
từ
quê nhà
Lê
Hữu Thông
(CHS
PTG 61- 68)

“Ba
vạn sáu ngàn ngày là mấy”
Ngày
tháng sao mà qua nhan quá! Đời người chỉ vỏn
vẹn bấy nhiêu ngày, như phù du, như bóng câu qua sang
cửa. Hợp tan rồi tan hợp. Bây giờ th́ thầy
cô, các anh chị cựu học sinh Phan Thanh Giản - Đoàn
Thị Điểm nơi quê người: trên năm mươi
và hẳn cũng có người đếm tuổi thượng
thọ. Sống ở quê nhà, vào tháng 9 năm 2003, tôi
được một người bà con – Cô Điệp cùng
quê - hiện định cư ở California tặng
quyển Đặc San 8 PTG – ĐTĐ 2003. Một món quà quí giá
vô cùng, ít người có được. Tôi đọc
nhiều lần, say mê nhiều, mà suy nghĩ cũng
nhiều. Tôi chợt có ư “viết” để “từ
quê nhà” nối ṿng tay nữa ṿng trái đất, cùng quí
thầy cô và đồng môn, ta bới lại đống
tro tàn của thời quá khứ: T́nh sư, huynh, đệ
dưới mái trường Đ̣an Phan : của những
đổi thay đến bây giờ … và mong ước
đặc san PTG – ĐTĐ sẽ là tổ ấm cho đại
gia đ́nh cựu học sinh đồng môn chúng ta cùng phát
huy đạo đức, đạo lư thánh hiền cho
thế hệ đàn em noi theo.
Trong
cuộc đời chúng ta, dĩ văng là những ǵ đă
qua, nó thuộc về quá khứ, nhưng mà trong đó hàm
chứa những kỷ niệm đáng nhớ vô cùng.
Nhiều lúc chúng ta nhắc lại, rồi nhớ lại
sẽ thấy một cái ǵ nao nao trong ḷng, và ngược
ḍng quá khứ, nhớ lại đời học sinh
của những ngày xa xưa…
Tôi
nhớ từ năm 1959 trở về trước, trường
Phan Thanh Giản chưa có qui định học sinh mặc
đồng phục. Nam sinh mặc quần tây, áo sơ mi,
mang giày ba ta, hoặc mặc đồ bà ba trắng, chân
mang guốc vong.
Các
anh hăy nhớ lại và hồi tưởng lại xem: khi ḿnh
hồi đó đi học mặc đồ bà ba trắng,
chân mang đôi gốc vong, tay ôm cặp da, tóc chảy
bảy ba, bước lốp cốp trên đường, vào
lớp học rồi về nhà. Chắc các anh tưởng
tượng lại sẽ thấy kỳ kỳ ngộ
ngộ. Thật khó mà diễn tả được.
Tôi
th́ vào học Phan Thanh Giản năm 1961, lúc bấy
giờ nhà trường đă qui chế đồng
phục; nam mặc quần tây xanh, áo sơ mi trắng, chân
mang giày ba ta. Nữ quần đen, áo dài trắng. Tôi
học lớp 7D. Đặc biệt lớp tôi có một anh cũng
mang tên họ là Phan Thanh Giản, Anh rất hiền.
Thỉnh thoảng giờ học Hán Văn, thầy An
gọi: cụ Phan lên bảng trả bài; thầy Liêu giám
thị cũng hay gọi anh là cụ Phan. Những lúc đó
trông anh thật tội nghiệp. Tôi nghĩ có lẽ cha
mẹ anh muốn rằng sau nầy anh cũng sẽ vang
danh trong xă hội nên
mới đặt tên anh như vậy. Lư Phú Nghi, La
Thời Thái, Thái Ngọc Quí, Vơ Kim Sang (1975: Trung úy),
Nguyễn Minh Thạch, Vơ Văn Để, Đỗ Trường
Sanh, Nguyễn Văn Hữu, Bùi Phước Thới, Lê
Quang Vinh, Nguyễn Văn Tiếp (phế binh cụt 2 chân
chết sau 1975).
Năm
đệ tứ học Việt Văn, thầy Quới
dạy rất hay, thầy nhớ rất nhiều từ
ngữ Hán Việt và điển tích, hầu hết
học sinh đều thích và say mê trong giờ thầy
giảng bái. Thầy Đức dạy Pháp Văn, có một
bài thơ tiếng Pháp, rất hay nhưng tôi chỉ
nhớ câu đầu, c̣n lời việt th́ nhớ rơ, h́nh
như đă được phổ nhạc.
Mon
âme a son secret
Ma
vie a son mysterè
Lời
việt dịch là:
T́nh
Tuyệt Vọng
Ḷng
ta chôn một khối t́nh,
Trong
ḷng giây phút, mà thành thiên thu.
T́nh
tuyệt vọng, nổi thảm sầu,
Mà
người gieo thảm hầu như không hay.
Hởi
người ơi, người đó ta đây,
Sao
ta thui thủi đêm ngày chiếc thân.
Dẫu
ta đi trọn đường trần,
Chuyện
riêng dễ dám lần hé môi.
Người
ta dù ngọc thốt hoa cuời,
Nh́n
ta như thể nh́n ngườikhông quen.
Đường
trần lặng lẽ bước tiên,
Ngờ
đâu chân đạp lên trên khối t́nh.
Một
niềm tiết liệt đoan trinh,
Xem
thơ nào thấy có ḿnh ở trong.
Lạnh
lùng ḷng sẽ hỏi ḷng,
Người
đâu tả ở mấy ḍng thơ đây.
Những
năm học đệ lục, đệ ngũ, đệ
tứ tôi ở nhà trọ nhà anh Lê Minh Phán hẻm Tài
Xỉu (anh Phán học trước tôi 2 lớp, bây giờ
dạy trườngTrung học nguyễn Việt Hồng
– Cái Răng). Ban đêm, khoảng10 giờ tôi thường
hay cùng các bạn đồng môn tản bộ trên
đường Lư Thái Tổ, Đại Lộ Ḥa B́nh
rồi ṿng xuống bến Ninh kiều, mua bánh ḿ nóng
tại ḷ rồi đến ngồi trên băng đá ven sông
ăn rất ngon lành. Chúa nhật thuở nhau lên vườnổi
hoặc đến vườn Thầy Cầu vui chơi.
Năm
1965 tôi thi lấy bằng Trung Học Đệ I Cấp. H́nh
như đây là khóa thi Trung học cuối ùng, những năm
sau th́ học sinh học luôn đệ II thi Tú Tài I và Đệ
I thi Tú Tài toàn phần.
Năm
1967 tôi thi Tú Tài I. Đến năm 1968, biến cố
Tết mậu Thân, gia đ́nh tôi ở quê bị ảnh hưởng
chiến tranh nên kinh tế sa súc, tôi thi hỏng Tú Tài II và
nghỉ học từ đó.
Năm
1972 tôi làm viêc tại Trung Tâm Chỉnh H́nh và Hướng
nghiệp Cần Thơ, chuyên ngành vật lư Trị
Liệu.
Đến
năm 1975 th́ …về vườn lao động!
Tôi
làm đủ thứ chuyện của ngườinông dân.
Cái câu “ Lao động là vinh quang” có một thực
tế quá cay đắng, để
rồi sau đó trong dân gian lại có câu kèm theo: dân
“lang thang đi làm quân cướp". Kể ra ḿnh cũng
hay, vừa về vuờn là tôi biến thành nông dân ngay:
phát cỏ, làm ruộng, không có máy cày th́ ta dùng cuốc,
nhiều đêm trăng sáng tôi cùng làm vầng công
với vài người “là ngụy quân” trong xóm cuốc
đất đến 12 giờ đêm mới nghỉ.
Cắt lúa, đập lúa, bưng lúa, cấy lúa tôi điều
làm được, dù không giỏi bằng “nông dân ṇi”.
Làm rẫy cũng đủ thứ: trồng bầu, bí, dưa,
rồi giăng câu, đặt lờ, đặt lọp,
đời sống thật là quá vất vả. Nhiều lúc
tôi chèo ghe đi bán dưa leo, bầu bí. Chèo từ
Phụng Hiệp qua Trà Ôn rồi chèo ṿng về Cái Răng.
Thật là đườngthâm thẩm chiều trôi. Đang chèo
ghe ban đêm mà nghe tiếng hát của Thanh Thúy, Duy Khánh,
Thái Thanh phát ra từ máy thâu băng ở nhà những cán
bộ trong vườnlà dừng ghe lại nghỉ mệt
và nghe những bài hát tiền chiến, cũng thấy
nhẹ nhơm trong ḷng. Thời điểm nầy chỉ có
nhà cán bộ mới dám giữ những cuộn băng
nhạc ngụy Sài g̣n mà thôi.
Cũng
có vài lần tôi vượt biển khơi nhưng không
thành, có lẽ vận số không may. Đến năm 1984 tôi
lập gia đ́nh. Vợ tôi là Trần Thị Bửu Châu
học TRung học Phụng Hiệp rồi về Đoàn
Thị Điểm học 1969 – 1972. Chúng tôi chung sức làm
ăn. Tôi làm vườn, làm ruộng, làm nắm mèo.
Vợ tôi vừa dạy học vừa làm thợ may. Đời
sống tương đối khá giả. Đến năm
1990 th́ sinh được 3 thằng con trai. Nhưng có
lẽ cũng do số phận khôngmay, năm 1990 phát
hiện vợ tôi bệnh ung thư vú khi thằng con trai út
vừa tṛn thôi nôi. Tôi đưa vợ tô lên Sài g̣n
điều trị tại viện ung thư bướu thành
phố. Đủ các loạithuốc đông y – tây y,
thuốc nam, thuốc bắc. Cuối cùng tiền mất,
tật mang, vợ tôi qua đời cuối năm 1994. Tôi
đành làm thân gà trống chăn dắt 3 thằng con
đến bây giờ.
“Thoạt
sinh ra th́ đà khóc chóc,
Trần
có vui sao chẳng cười kh́”.
Cuộc
đời quả buồn nhiều vui ít. Trong một ngày
ta suy tư âu lo nhiều hơn là hân hoan vui cười. Tôi,
trong nổi buồn của số phận không may, hôm nay tôi
lại có được cái may mắn, an ủi cho tâm
hồn là nghĩa t́nh đồng môn của quí anh chị
từ hải ngoại- cácch xa nửa ṿng trái đất -
gởi về cho tôi. Và tôi thường suy ngẫm :
Cửa khổng sân tŕnh và đạo lư thánh hiền
vẫn c̣n tồn tại và phát huy trong lớp người
chúng ta. Nghĩa t́nh Sư Huynh Đệ với tấm ḷng
cao thượng, t́nh ngườitrong kiếp sống con người.
Tôi không thể diễn đạt hết bằng bút
mực được. Xin dừng lại ở đây
với hy vọng:
“C̣n
trời, c̣n đất, c̣n non nước"…
16-02-2004, (26 -01 âl – 2004)