TÂM SỰ

VỚI NGƯỜI ĐĂ CHẾT

 

Phạm Văn Hiền

"...c̣n đâu nữa, c̣n đâu nữa, tiếng hót chim non, cây đa trường cũ...".  Tiếng hát Hương Lan ray rứt, ngẹn ngào văng vẳng từ chiếc máy computer cũ làm ḷng tôi se sắt. Bên ngoài, trời Bắc Mỹ đang đổ tuyết. Qua khung cửa kính, tuyết bay mù mịt, hàng cây ven đường run rẩy trong gió rét... nhớ c̣n nợ Đặc San một bài viết...Anh Trạng ơi, anh hại tôi rồi đấy nhé? Tôi chưa từng viết văn, không quen làm thơ, có chăng là những ḍng thư t́nh lăng mạn, ướt át viết cho người tôi thương mà có lẽ chỉ có  người ấy thưởng thức mà thôi, nhưng cũng xa xôi lắm rồi...Hai mươi năm lưu lạc xứ người, "cày sâu cuốc bẩm" trong các hảng xưởng để trả nợ áo cơm, ít có dịp được đọc văn thơ ViệtNam. Bây giờ phải viết một bài để quư Thầy Cô và các đồng môn "thưởng lăm" th́ thật là khó khăn và ngại ngần cho tôi qúa...

Thăng, bây giờ bạn đă ra người thiên cổ. Bây giờ, ngồi đây, ở nửa ṿng trái đất, bên ngoài băo tuyết chập chùng, tôi viết đôi ḍng tâm sự với bạn.

Hơn hai mươi năm qua, từ ngày gặp nhau lần cuối trong căn nhà lá đơn sơ của bạn trong Mỹ Khánh, qua buổi cơm đạm bạc cùng với chị tôi, chúng ta đă không nói được ǵ nhiều. - Ừ thôi tôi đi... Chị tôi và bạn cũng không dám chúc thượng lộ b́nh an, v́ chúc như vậy hóa ra nghĩ rằng không b́nh an sao? Qua ánh mắt ái ngại của bạn và chị tôi, chúng ta cùng hiểu ngầm rằng bao nhiêu hiểm nguy đang chực chờ, biết đâu sẽ không c̣n ngày nào đó.

Trên đường quê dẫn ra lộ xe, chúng tôi tự nhủ thầm dù chết cũng phải ra đi. Ở lại chúng tôi không c̣n một đường nào sống nữa, con cái chúng tôi sẽ măi măi là tôi đ̣i. Nhà chúng tôi, không bằng cái chuồng trâu của người hàng xóm, cột kèo là những cây so đủa non, mới đốn trong vườn, thêm vài cây cau của bà con cho. Vách dựa vào căn nhà gạch đổ nát. Đêm nằm có thể đếm sao. Danh sách đi thủy lợi không bao giờ lọt sổ và những buổi tập trung trong xă, với những họng súng Aka canh chừng. Lời của cán bộ ấp c̣n văng vẳng bên tai:"Tôi cho dượng ở một quư (3 tháng) nữa thôi, có thể dượng sẽ "được" cử đi lao động bên Liên Xô...!" Đây là lời hù dọa hay sự thật, tôi cũng chẳng biết nữa. Tôi phải đi, thế thôi.Tôi như con thú bị thương, cố tránh xa cạm bẫy và những cặp mắt cú vọ chực chờ. Từ bấy đến nay, chưa lần nào tôi có dịp để kể bạn nghe cuộc đời của tôi sau ngày chúng ta bắt tay lần cuối.

Chị tôi đă ăn chay, ngày đêm cầu nguyện cho chúng tôi vượt biển b́nh an. Ngày đến bến bờ Tháilan, trên chiếc tàu tơi tả, cám ơn Trời đă cho chúng được thóat nạn qua hơn 14 ngày đêm lang thang, đói khát trên đại dương.

Những tháng ngày miệt mài ở trại tỵ nạn, sau hàng kẽm gai giăng, với những h́nh phạt treo tay, phơi nắng, hành hạ những thuyền nhân trẻ vi phạm nội quy của trại.

Ngày lại ngày chúng tôi nuôi hi vọng bằng những tin đồn vô căn cứ. Chúng tôi gắng tự an uỉ:"cuối đường hầm sẽ là ánh sáng". Chúng tôi đang ngột ngạt trong đường hầm tăm tối. Cuộc hành tŕnh t́m tự do sao chông gai và tủi nhục qúa! Có những  lúc chúng tôi tưởng chừng tuyệt vọng, v́ ḷng thương của thế giới tự do đă mơi ṃn.

Chúng tôi rời trại tỵ nạn Sikiew vào một buổi sáng nắng nhẹ để được chuyển đến trại Galang, Indonesia. Thôi giả từ Sikiew với hàng kẽm gai giăng mắc, bỏ lại sau lưng những ngày tháng u buồn.

Galang II với những cánh rừng xanh um trùng điệp, với những suối nước trong vắt ồ ạt chảy quanh năm, với những cơn mưa đại dương tầm tă kéo dài hàng tuần, để lại trong tôi nhiều kỹ niệm êm đềm...

Tháng sáu năm 1984, sau chuyến bay xuyên đại dương, đánh dấu một cuộc đời mới nơi xứ người. Người bảo trợ đưa chúng về "căn nhà đỏ" của khu nội ô thành phố Chicago. Những buổi chiều nắng muộn, tiếng nhạc réo rắt từ chiếc xe bán kem dạo của các anh chàng Mễ làm cho chúng tôi bồi hồi, da diết nhớ kỹ niệm xưa, mẹ già, em dại...Thời gian chừng như lắng đọng, ngừng trôi.

Cuộc đời đă đưa mỗi chúng ta vào một ngỏ rẻ riêng biệt, bạn bên kia biển Thái B́nh, tôi bên này Đại Tây Dương, hằng ngày vật lộn với cuộc sống, đổ mồ hôi, nước mắt. Chúng ta đă không có giờ để tâm sự trong hàng chục năm qua. Giờ bạn đă buông hết, an nghĩ, quạnh quẽ ngoài đồng vắng.

Bạn có nghe tôi không? Bạn có nghĩ đến những bạn bè của chúng ta dưới mái trường PTG thuả nào. Bây giờ chắc bạn đă hội ngộ với Dương đức Chung, Thái đắc Bùi...

Bạn có c̣n nhớ những đêm, sau giờ học toán với Thầy Phú (Pháo Binh), ḿnh kéo nhau lên lộ mới đua xe đạp, những sáng Chúa Nhật ngồi tán gẫu hàng giờ, tại quán sinh tố của cô Tàu, trước bungalow bến Ninh Kiều, uống không biết bao nhiêu b́nh trà của cô hàng. Những buổi đạp xe đạp đi vẽ với Thầy Hiếu Đệ. Những buổi trốn nhà đi chơi vuờn Thầy Cầu, vườn ổi v..v...Thủa đó, chúng ta c̣n ngây thơ, chưa nếm mùi trái đắng t́nh ái.

Ḍng đời cứ trôi, bạn t́nh nguyện gia nhập đoàn Xây Dựng Nông Thôn, khoác lên ḿnh chiếc áo bà ba đen, đi vào làng xă với bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên. Tôi tiếp tục theo đuổi con đường "Quên ḿnh, cứu người", nhưng biến cố Tết Mậu thân đă làm cho mộng ước tan tành. Tôi đă trở thành một quân nhân, ngày đêm miệt mài miền "Nắng bụi, mưa bùn" với gió núi và sương rừng Tây Nguyên.

Hơn ba mươi năm qua rồi, trí nhớ tôi đă nhạt nḥa, kỹ niệm thuả học tṛ ngủ yên trong tâm tưởng, rồi một tối check e-mail bên nhà, hay tin bạn đau nặng. Bao nhiêu kư ức đổ về, thương cho bạn và tội nghiệp cho chị tôi. Tôi làm ǵ được giờ, ngoài chút đỉnh tài chánh, và những lời an ủi, trấn an "vô nghiă". Cả nhà đă dấu bạn, rằng bạn đang ở vào đoạn cuối của cuộc đời, mà sự sống chỉ đếm từng ngày, theo những cơn đau quặn thắt ruột gan. Tôi ch́u theo đề nghị của gia đ́nh, lần cuối nói chuyện với bạn qua điện thoại, tôi cũng không dám hé răng! Mong bạn thứ cho!

Tôi vẫn không nghĩ rằng bạn ra đi là vĩnh biệt đâu. Rồi có ngày chúng ta c̣n gặp lại.

Thái văn Thăng đă mất trong bất ngờ một ngày tháng sáu 2003 mà chính anh cũng không biết trước đó một giây.

Anh đă đi vào miên viễn, không lời trăn trối, từ giả vợ con...Ngày động quan cũng chẳng mấy người đưa tiển v́ báo tang lộn ngày giờ (đi coi thầy, thầy cho ngày ta, cậu em tưởng ngày Tây, nên giờ chót phải chôn gắp cho đúng ngày mà không kịp đính chính).

Anh là bạn "nối khố" mà cũng là anh rể của tôi.

Những ḍng tưởng niệm này nhằm chia buồn cùng chị tôi và thông báo cùng bằng hữu.

Phạm văn Hiền.