Bài văn bia do cụ Phan Thanh Giản sáng tác để khắc trên mộ bia của cụ Vơ Trường Toản
Gs. Lê Quư Đàng
Nguyên Văn chữ Hán:
(Xin cáo lỗi cùng tác giả, v́ lư do kỹ thuật BBT không tiện
đăng phần nầy)Phiên âm Hán Việt:
Phù thiên thánh chi dạo tuy đồng, kiến văn chi tri hữu dị, thành công sở dĩ nan dă. Huống hồ: sanh bất cập thánh. thân bất cập hiền. Đặc chi yên vi, u viễn chi gian, nhi kiến chư nhật, nguyệt, giang hà chi dại, tác kỳ nan giă, cố bất thập, bách nhi thiên, vạn dă tai! Cảnh nhạc biểu dĩ ngưng tư, vọng Đẩu nam, nhi hà xí, ư Gia Định xử sĩ Vơ tiên sinh cái hữu quyền quyền yên. Tiên sinh tính Vơ, húy Trường Toản, tiên thế, hoặc vân: Quảng Đức chi Thanh kệ nhân, hoặc vân: Gia Định chi B́nh Dương nhân. Kỳ uyên nguyên sở tự mị dắc nhi tường. Tiên sinh tiễn lư dốc thực, thuật nghiệp thâm thông, trị Tây Sơn chi loạn, ẩn cư, thọ đồ, thường sổ bách nhân. Ngô công Tùng Châu kỳ cao đệ dă. Kỳ thứ, tắc Trịnh công Hoài Đức, Pham công Ngọc Uẩn, Lê công Quang Định, Lê công Bá Phẩm, Ngô công Nhân Tĩnh đẳng, danh sĩ tắc Chiêu, Trúc nhị dật nhân, dư bất năng cánh số. Chư công cảm hội phong vân, xuất vi trung hưng hiền tá, hoặc sát thân dĩ thành nhân, hoặc phỉ cung dĩ hiệu tiết, giai hữu công liệt biểu hiện ư thế.
Phụng ngă Thế Tổ Cao Hoàng Đế ngự Gia Đinh thời, lũ mông triệu đối, hựu văn tiền sinh bác quán quần Kinh, vưu trường “Tứ Tử Thư” nhứt bộ. Dật nhân Chiêu túc học duy tùng tiên sinh thọ "tri ngôn dưỡng khí" chi nghĩa. tằng kiến tiên sinh di thư: "Đại Học thiên thất bách tự, tán chi tắc vô số sự vật, thu chi chỉ nhị bách tự, hựu thu chi, tắc chỉ nhất tự, hựu thu chi, nhứt tự tịnh vô"
Y! Tiên sinh chi học trí kỳ đại nhi tinh chi giả dă, tuy dĩ chi dộc thiên vạn kinh khả dă. Tiên sinh bất sĩ kỳ sự nghiệp bất dắc khái kiến, tự tiên sinh dĩ nghĩa lư chi học vi giáo, phi duy đương thời đạo dục đắc hứa đa nhân tài, nhi truyền thuật giảng ma. Chí kim, lục tỉnh chi dân trung nghĩa cảm phát phấn, bất cố thân, tuy dĩ thâm nhân, hậu trạch, cố kết nhân tâm, dung phi khai dụ, hữu sở tự lai nhi năng như thị hồ!
Tiền Nhâm Tí niên, lục nguyệt sơ cửu nhật, dịch trách dại tinh cáo vẫn, thần tâm chấn diệu, khâm mồng tứ hiệu; "Gia Xử Sĩ Sùng
Đức Vơ Tiên Sinh" chí ư mộ.Đại định chi hậu, chư công tẩm dĩ linh tán, vô sở biểu dường. Tự Đức ngũ niên, khấm phụng chỉ chuẩn, tức vu B́nh Dương huyện, Ḥa Hưng thôn phận, kiến phường tinh biểu, đồng nhân vi kiến từ, trí điền dĩ cung thời tiết tự sự.
Cận nhân binh tiễn, cúc vi hoang khư, cố phần cửu lưu, diệc lự bất tiện. Dữ lănh Vĩnh Long
đốc học đồng quận Nguyễn Thông, hội thân sĩ mưu thiên chi. Thông tri An Giang hiến sứ Phạm Hữu Chánh, cập Hà Tiên tỉnh giai hợp. Nhưng ủy tú tài Vơ Gia Hội đẳng, hội Ḥa Hưng thôn mục đẳng, cẩn hành khai khoáng, cố liêm canh dĩ tân quan. Đồng nhân nghị dĩ học sứ Nguyễn Thông tuyên chủ tang sự, kỳ phục chế, phỏng cổ tang sư lễ. Tang cụ kư bị, dĩ kim niên quyên ư tam nguyệt, nhị thập bát nhật, an thố vu Bảo An huyện, Bảo Thạnh thôn chi khư, thụy dĩ dức phối thục thận chi nhũ nhân hợp, táng ấu nữ ṭng táng. Thử địa, tọa Dần hướng Thân nhi kiêm giáp canh, ỷ sùng cang nhi thiếu sơ việt, đối diện khoáng viễn nhi u tú, thù hữu giai trí. Mộ tiền thập trượng, kiến từ. Từ tiền thất trượng, kiến phường. Thị cử dả. Tại tỉnh dần bằng, hạt hạ phủ huyện, giáo huấn, sĩ tử, dữ An Hà nhị tỉnh thân sĩ, Gia Định tam tỉnh, nhân sĩ chi lưu ngụ giả hàm dự yên.Cát táng sự thoan, nhiếp thỉnh nhưng cựu tinh biểu, hựu thỉnh mộ dân ngũ danh, phu trưởng nhất danh, bị thủ hộ tảo trừ yên.
Khủng tuế viễn thân di hậu chi nhơn vô dĩ chiêm thức, cẩn thuật kỳ sự nhi vi chi minh.
Minh viết :
đốc hành.Ô hưu tiên sinh!
Túy học,
Thao quang ẩn diệu,
Nặc dĩnh tiềm anh.
Cư dung tùy khấu
Hốt phát
đại minh.Thị ngă chu hàng
Xi bỉ hậu giác.
Toản ngưỡng chung thân,
Lăo nhi di xác.
Hà Phần
đăi thứ,Lộc
Động khổ trác.Sùng
Đức di vinh,Tuân bảo thiên tước.
Tự
Đức nhị thập niên, tuế tại Đinh măo, tam nguyệt nhị thập bát nhật. Văn sinh Phan Thanh Giản, huần mộc cẩn minh. (1)III - Dịch ra Việt Văn
Đạo của các bậc thánh nhân giống nhau, tuy nhiên sự hiểu biết bằng tai nghe, mắt thấy của người có chỗ không giống nhau. Bởi vậy, người đời đạt được thành công về hiểu biết, thật rất khó !
Huống hồ! Ḿnh sinh ra không phải là bậc thần thánh, lại không gần
được bậc hiền, muốn hiểu biết chỗ “yên vi" (điều rất nhỏ), “ u viễn” (điều rất xa), thấy được sự vĩ đại của mặt trời, mặt trăng,cùng các gịng sông lớn, quả càng khó khăn lắm thay!Ôi! Ngắm Cảnh nhạc mà chỉ mong tới
đỉnh núi. Trông Đẩu nam, mà chân cố nhón gót lên đến sao! Đối với nhà xử sĩ Vơ tiên sinh, thật nặng trĩu một tấm ḷng thành!Tiên sinh họ Vơ, tên húy là Trường Toản. Về tổ tiên
đời trước của tiên sinh, có người nói là người Thanh Kệ, tỉnh Quảng Đức, hoặc có kẻ nói là người thuộc huyện B́nh Dương, tỉnh Gia Định. Nguồn gốc (uyên nguyên) chưa được rơ ràng.Tiên sinh học rất sâu, biết rộng. Thời loạn lạc Tây Sơn, tiên sinh ở ẩn, mở trường dạy học. Học tṛ của tiên sinh dông
đến mấy trăm người. Người học tṛ ưu tú nhất của tiên sinh là ông Ngô Tùng Châu. Thứ đến là các ông Trịnh Hoài Đức, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Quang Định, Lê Bá Phẩm, Ngô Nhân Tĩnh; các học tṛ được xếp vào hàng danh sĩ ẩn dật như ông Chiêu, ông Trúc. Ngoài ra, có nhiều học tṛ khác không thể kể xiết.Các ông kể trên, gặp hội phong vân, làm
đến bậc tôi hiền thời Trùng Hưng (2). Có người đă chịu sát thân để thành nhân, hoặc có kẻ dám quên ḿnh để tṛn điều tiết nghĩa. Ai nấy đều lập nên công nghiệp lớn lao, vẽ vang trên đời.Hồi vua Thế Tổ ngự vào Gia
Định, thường vời tiên sinh đến để hỏi việc. Lại nghe tiên sinh học rộng các Kinh (Ngũ Kinh) và sở trường nhất về bộ "Tứ Thư". Nhà ẩn sĩ tên Hiêu, học tṛ của tiên sinh, vốn là người túc học, theo học với tiên sinh mà lănh hội được cái ư nghĩa “Tri ngôn, dưỡng khí". Ông Chiêu từng đọc thấy trong sách của tiên sinh c̣n để lại những lời sau: “Sách Đại Học gồm có một ngh́n bảy trăm chữ, tan ra gồm vô số sự vật, thu lại c̣n hai trăm chữ, thu lại lần nữa chỉ c̣n một chữ, thu thêm lần nữa, một chữ cũng không c̣n".Hay thay! Cái học của tiên sinh thật là rộng lớn và tinh vi vậy ! Với cách học ấy, ta có thể
đọc hàng ngàn, vạn kinh sách, sách nào cũng rơ ư nghĩa lư được. Tiên sinh không chịu ra làm quan, nên đại khái không thấy sự nghiệp chính trị của tiên sinh. Từ khi, tiên sinh đem cái lối học nghĩa lư ra dạy người, chẳng những đào tạo được nhiều nhân tài đương thời mà c̣n truyền lại thuật giảng luận. Trau dồi trí thức cho người đời sau nữa. Cho đến nay, dân trong sáu tỉnh Nam kỳ, tỏ ḷng trung nghĩa cảm phát, dám v́ nghĩa khí mà hy sinh cả tính mạng, xét cho cùng, tuy nhờ ân đức thâm nhân, hầu trạch của đức vua, cố kết ḷng người, nhưng nếu không có công đức mở mang giáo huấn của tiên sinh từ trước thí làm sao có dược nhân tâm như thế?Ngày 9 tháng 6 n
ăm Nhâm Tí (1792), tiên sinh mất. Vua rất thương tiếc, ân tứ hiệu là "Gia Định Xử Sĩ Sùng Đức Vơ Tiên Sinh" để khắc vào mộ bia. Sau thời đất nước đại định, các học tṛ của tiên sinh tản lạc dần, không ai có thể biểu dương tài đức của tiên sinh được. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), vua sai dựng phường để t́nh biểu tại làng Ḥa Hưng, huyện B́nh Dương. Một số người đồng ḷng lập đền thờ, hiến ruộng để dùng vào việc cúng tế theo thời tiết. Những ngày gần đây, xẩy ra việc binh lửa, phường và đền đều bị tàn phá, thành ra hoang lạnh. Mộ phần hư đổ lâu ngày, để vậy không tiện. Tôi cùng với người đồng hương là ông đốc học tỉnh Vĩnh Long, họp các thân sĩ, tính cách dời mộ đi nơi khác. Chúng tôi cũng thông báo với quan hiến sứ tỉnh An Giang là Phạm Hữu Chánh, cùng tỉnh Hà Tiên cũng đều đồng ư, bèn ủy thác cho mấy vị tú tài Vơ Gia Hội, các ông thân mục làng Ḥa Hưng, kính cẩn đào mộ, thâu liệm hài cốt trong áo quan mới. Chúng tôi đồng ư cử quan học sứ Nguyễn Thông đứng làm chủ tang. Tang phục làm theo lễ tế thầy học thời xưa. Chúng tôi chọn ngày 28 tháng 3 năm nay (Đinh Măo:1867), rước di hài tiên sinh về an táng trên đất giồng, thuộc làng Bảo Thạnh, huyện bảo An, lại đem di hài của bà Nguyên Phối để hợp táng cùng di hài người con gái nhỏ. Một phần xây tại hường Đông Bắc, ngó về hướng Tây Nam, dựa vào một g̣ cao, đối diện là khoảng trống vừa xa, có vẻ u tịch mà thanh tú. Cảnh trí rất đẹp mắt. Trước mộ mười trượng có xây đền thờ, trước đền bảy trượng có dựng phướng. Công việc này, các quan đồng liêu cùng các chức phủ, huyện, giáo huấn và các học tṛ, cùng thân sĩ hai tỉnh An Giang, Hà Tiên, cùng với các sĩ phu ở ba tỉnh vùng Gia Định đều đến tham dự lễ.Kiết táng xong, chúng tôi tâu lên vua, xin ghi biểu nghữ như cũ, lại xin mộ 5 người dân 1 người phu trưởng
để coi việc giữ ǵn quét dọn. Chúng tôi lo sợ lâu năm, thời buổi dổi thay, sau nay người đời không ai biết đến để chiêm ngưỡng, nên kính cản thuật lại mọi việc và làm một bài minh.Minh rằng:
đánh,Ôi!
Hay thay! Tiên sinh!
Học sâu, hành rộng,
Đức trọng, tài cao,
Tinh anh, lỗi lạc,
Nào khác chuông to,
Tùy cho người
Lanh lảnh phát thanh.
Hậu sanh ngưỡng trông,
Trọn
đời chữa thông,Mối
đạo lớn rộng,Tuổi trọng mới tường!
Hà Phần (3), tài giống,
Lộc
Động (4) kịp so.Khổ lo ngóng
đạo!Sùng
Đức vinh danh,Tước trời ban cho.
Tự
Đức thứ 20, ngày 28 tháng 3 năm Đinh Măo (1867). Kẻ văn sinh là Phan Thanh Giản, sau khi đă tắm gội sạch sẽ mới viết bài minh nầy.IV - Chú thích:
1 -Sau khi cụ Phan làm v
ăn bia này xong, người ta cho thợ khắc lên bia để thờ tại Tụy Văn Lâu (Văn miếu ở Vĩnh Long), nhưng trong lúc thợ đang tiến hành công tác, xẩy ra có cuộc hành quân của người Pháp đến, nên việc khắc bia bị bỏ lỡ. Măi đến năm Nhâm Thân (1872), ông trương Ngọc Lang, người minh hương ở Vĩnh Long cho thợ trùng tu và việc khắc bia mới hoàn thành. Như vậy, kể từ năm Nhâm Tí (1792) là năm cụ Vơ Trường Toản mất cho đến năm Nhâm Thân (1872) mới dựng bia đă khắc xong.2 - Thời Phục Hưng : Triều Gia Long
3 - Hà Phần: Ông Vương Thông
đời nhà Tùy bên Trung Quốc4 -Lộc
Động: Ông Chu Hy, một học giả uyên bác thời Tống bên Trung QuốcPorland Oregon 24-12-2003
Gs. Lê Quư
Đàng