|
NHỚ THẦY BA
TRƯƠNG
NGUYỄN VĂN
QUYỀN
CỰU HỌC SINH THTH PHAN
THANH GIẢN
NIÊN KHÓA 1968 – 1975
Từ lâu tôi mong
được đọc những dòng chữ của các thầy cô, hoặc các bạn đồng
môn nhắc về một người thầy vô cùng đặc biệt, tại ngôi trường
có lịch sử lâu đời và nổi tiếng nhất tại miền Tây, đó là
trường trung học tổng hợp Phan Thanh Giản, nhưng chờ đợi lâu
quá mà chưa thấy hoặc chưa có dịp thấy, nên tôi phải viết
những dòng chữ này. Người thầy mà tôi muốn nhắc đến đó là
Thầy Đoàn Văn Trương (tức Thầy Ba Trương) dạy môn sử địa.
Từ lúc còn đi học hay sau này, khi xa hẳn mái trường và ngôi
trường không còn mang tên cũ, khi có dịp ngồi lại bên nhau,
dù tuổi tác có khác nhau, nghề nghiệp hoàn cảnh sống khác
nhau, bạn bè cũng như thầy trò ở ngôi trường cũ đều nhắc đến
Thầy với nhiều sự kiện cụ thể và nhiều tình tiết gần như
giai thoại. Riêng bản thân tôi có ba sự kiện có sự hiện diện
của Thầy trong ba sự kiện đó và qua đó làm thay đổi tình cảm
và cuộc sống, hạnh phúc đời tôi.
Sự kiện thứ nhất, năm
1968 tôi thi đậu vào lớp đệ thất của trường trung học tổng
hợp Phan Thanh Giản, được vào lớp đệ thất 7 P2,
học phòng thứ 2 dãy giữa tính từ phía đường Trương Định (có
trường Minh Nhựt-Văn Đạt), cuối dãy là phòng giáo viên nằm
đối diện cầu thang lên lầu. Nhà vệ sinh nằm sát tường đường
Trương Định, thầy cô giáo muốn đi vệ sinh, phải đi qua lớp
học của chúng tôi, lớp đệ thất 7 P2 học buổi
chiều.
Một lần trong lúc xếp hàng vào lớp, tôi đứng hàng bìa, sát
với đường cống thoát nước, một anh bạn đứng phía trên tôi
lấy tay búng vào lỗ tai của anh bạn đứng trước, cả năm sáu
bạn đứng trong hàng thấy vậy cười ồ lên. Bỗng nhiên tôi bị
một cái tát như trời giáng, kèm giọng nói: “Mất dạy, đái mà
cười … đái mà cười à…” Tiếp theo tôi bị thêm 3 cái tát nữa,
các bạn đứng phía trước tôi cùng số phận như tôi, tổng cộng
có 6 đứa. Chúng tôi không biết chuyện gì xảy ra, chỉ nhận
thấy một thầy giáo lớn con, chân mày bạc trắng đánh chúng
tôi. Nhưng vì mới vào học, chúng tôi không biết thầy là ai,
hơn nữa quá bất ngờ nên chúng tôi đứng chịu trận.
Chưa hết, sau khi vào lớp xong, tôi nhớ đó là giờ Thầy Phi
dạy môn sử địa, thầy giáo lúc nãy bước vào lớp nói với Thầy
Phi “ông giáo sư cho tôi mượn mấy trò lúc nãy lên phòng giáo
viên cho tôi hỏi việc”. Thầy Phi đồng ý và sáu đứa chúng tôi
riu ríu đi theo thầy vào phòng giáo viên. Thầy giáo hai tay
chắp sau đít, mặt đỏ bừng, nạt hỏi chúng tôi: “Tại sao thầy
đi đái mà mấy trò cười”, lúc đó tôi nước mắt lưng tròng, thu
hết can đảm, vừa khóc vừa trả lời “Thưa thầy, tụi con không
có cười thầy, vì bạn Khải búng lỗ tai của bạn đứng trước nên
tụi con cười”. Lúc ấy thầy mới nguôi giận, nói “xếp hàng mà
còn giỡn thì đánh cũng đáng, thôi về đi”. Lúc ấy chúng tôi
mừng quá bước lẹ vào lớp, hai bên má đứa nào cũng đỏ lừ vì
mấy cái bợp tai.
Sau đó tôi mới được biết thầy là thầy Ba Trương. Theo lời
thầy Lê Văn Quới kể lại, sau việc thầy đánh chúng tôi, thầy
Ba Trương đã đề nghị nhà trường xây nhà vệ sinh trong phòng
giáo viên (trước đó thầy giáo và học sinh đi chung nhà vệ
sinh như đã kể trên).
Sự kiện thứ hai, một
buổi sáng năm tôi học lớp 9 (ở trường trung học tổng hợp
Phan Thanh Giản, từ khối lớp 6 đến khối lớp 9 học buổi chiều
quần xanh áo trắng ngắn tay, mang bảng đen, từ khối lớp 10
đến khối lớp 12 quần xanh áo trắng ngắn tay, mang bảng đỏ),
tôi đang cầm tờ giấy bạc 100 đồng, từ nhà trong hẻm sát cầu
Tham Tướng, đi chợ mua bánh mì. Tôi mặc quần xà lỏn, áo ngắn
tay đi được nửa hẻm, bất ngờ tôi gặp thầy dắt chiếc xe đạp
đòn dong, đi chiều ngược lại (Thầy sống với gia đình ở đường
Nguyễn Công Trứ, cặp bờ sông Cần Thơ). Vì phát hiện ra thầy
thì gần nhau quá, tôi không kịp né (lúc tôi đi học, không có
học trò nào dám đi ngang qua mặt quý thầy) nên tôi gật đầu
chào thầy. Bỗng nhiên thầy đưa tay ra bắt tay tôi, tôi buộc
lòng phải bỏ tờ giấy bạc 100 đồng xuống đất, đưa hai tay ra
bắt lại tay thầy. Không biết thầy có nhớ 4 năm trước đây,
thầy đánh tôi 4 bợp tay hay không, thầy còn tươi cười nói:
“Giỏi, ngoan, ráng học nha con”. Sau khi thầy đi qua, tôi
vẫn còn sợ, tôi lượm tờ giấy bạc lên, tiếp tục đi chợ, vừa
suy nghĩ mãi về thầy với hai thái độ hoàn toàn khác nhau.
Sự
kiện thứ ba,
sau khi học ban C (ban Văn Chương) năm lớp 10, tôi thấy
đường vào đại học của ban C hạn chế có mấy ngành thôi, nên
tôi nói với tía tôi, là tôi muốn chuyển qua học ban A (ban
Vạn Vật) tía tôi nói để tìm người nói giúp, vì xin chuyển
ban như thế rất khó.
Sau đó tía tôi nói lại với ông già người Hoa, gọi là ông Ký,
bán cà phê trước hãng xe Nhơn Hòa, gần cầu Tham Tướng. Ông
Ký nói ông có thể nói giúp cho vì ông Ký có người bạn hay
ghé uống cà phê, lại là giáo sư dạy tại trường Phan Thanh
Giản. Sau đó ông Ký mới cho biết đó là giáo sư Đoàn Văn
Trương. Tôi không biết chắc mình có được đổi ban hay không,
nhưng vào đầu năm học lớp 11, khi đi đóng tiền niên liễm,
tôi được báo là có tên trong lớp 11A2. Thầy đã
giúp mà không nhận được một lời cám ơn hay biết mặt đứa học
trò mà mình đã giúp, dù đứa học trò đó đã nhận bốn tát tai
vào năm lớp đệ thất và cái bắt tay của thầy vào năm lớp 9.
Nhờ chuyển qua học ban A vào năm lớp 12 (tôi học lớp 12A4),
tôi gặp được một người con gái học chung lớp và có mối tình
đầu đẹp như thơ, chỉ xuất hiện trong truyện cổ tích, mấy
chục năm nay tôi vẫn hằng mong nhớ. Và cũng nhờ học ban A
nên tôi thi đậu vào ngành Nông Nghiệp trường Đại học Cần Thơ,
khi ra trường tôi vẫn làm việc ở đó cho đến bây giờ. Lần thứ
ba có sự can thiệp của thầy trong cuộc đời tôi, đã làm thay
đổi cả quá trình sống làm việc và tâm tư cả một cuộc đời.
Còn những chuyện kể và giai thoại về thầy thì nhiều vô số,
nếu chép ra thì không biết bao giờ mới hết được. Tôi chỉ xin
nhắc lại 3 câu chuyện, nói lên tính cách của thầy (do hai
chân mày của thầy bạc trắng, rất dày nên đám học trò gọi
thầy là “Thái Thượng Lão Quân” sau này chúng tôi còn gọi
thầy là Bạch My Ưng Vương như trong truyện “Cô gái Đồ
Long”).
Chuyện thứ nhất và
thứ hai do thầy Lê Văn Quới kể: Vào một buổi sáng, Thầy Ba
Trương đi xe đạp vào cổng trước (đường Phan Thanh Giản – nay
là Xô Viết Nghệ Tỉnh), bỗng Thầy thấy một thanh niên mặc áo
bỏ ngoài quần, mang dép lê (dép Nhật) nên thầy dựng xe đạp,
túm áo người thanh niên, đưa tay lên định tát vì vào trường
không mặc đồng phục, lại bỏ áo ngoài quần. May sao lúc ấy có
thầy hiệu trưởng Nguyễn Trung Quân đang đi đến, vội la lớn
“thầy ơi thầy, đây là ông Professeur Trung, dạy Đức ngữ mới
về trường”. Lúc ấy thầy mới buông ông thầy Trung ra, và rối
rít nói “xin lỗi ông Professeur nha, xin lỗi ông Professeur,
chút xíu nữa là bậy lắm rồi.” Lúc ấy ai cũng dở khóc dở cười,
vì tính thầy lúc nào cũng nóng và nghiêm, học sinh nào phạm
lỗi thì kể như ăn bợp tay như chơi. Thầy Trung mới du học ở
Đức về, trắng trẻo, rất trẻ, dáng vẻ như học sinh nên thầy
mới lầm.
Chuyện thứ hai: năm thầy 78 tuổi, từ Bến Tre thầy về lại Cần
Thơ. Thầy nhờ thầy Lê Văn Quới chở từ nhà thầy Quới về thăm
nhà cũ của Thầy ở đường Nguyễn Công Trứ (nay là Nguyễn Thị
Minh Khai). Khi chạy xe qua ngã ba đường Quang Trung và
đường 30/4 (Lý Thái Tổ cũ), có một thanh niên chạy xe khá
nhanh, làm thầy Quới phải thắng xe lại, thầy ngồi sau lấy
cây ba ton đập vào lưng anh thanh niên nghe cái “bình”, nói:
“mày muốn chết hả?” Lúc ấy Thầy Quới sợ quá, nghĩ rằng anh
thanh niên kia sẽ quay xe lại sinh sự, nhưng may quá, người
ấy chạy luôn, chắc là nhìn thấy thầy lớn tuổi, nên nhịn.
Câu chuyện thứ ba chính là do anh Bùi Hảo Tâm, kể lại kỷ
niệm năm anh học lớp 10. Gia đình anh Tâm lúc ấy khá giả nên
khi đi học anh có đeo dây chuyền vàng. Tướng anh Tâm lại cao
ráo, lớn con. Thầy đi dạy, rất ghét ai đeo vàng, bạc nữ
trang, nhất là nam, nhưng thầy không nói được vì trường
không có quy định cấm. Hầu như buổi học nào có giờ của thầy,
thầy cũng kêu anh Tâm trả bài. Biết thân phận anh Tâm học
rất kỹ, thuộc lòng môn sử địa của thầy. Gần cuối năm học,
thầy lại kêu anh Tâm trả bài, sau khi trả bài xong tự nhiên
thầy nói với anh Tâm: “Con đứng gần thầy nói cho thầy nghe,
đứng xa nói không nghe rõ.” Đúng lúc anh Tâm đứng sát bên
thầy, anh nhận hai cái tát tai, theo anh diễn tả, cũng như
trời giáng. Anh chưa hiểu tại sao mình bị thầy đánh, thì
thầy nói: “Mấy con thấy chưa, cả năm nay nhiều đứa bị thầy
đánh rồi, chỉ có thằng Tâm là thầy không đánh, vì thằng Tâm
học giỏi chứ không phải vì Thầy thấy nó giàu, nó lớn con mà
thầy sợ nó. Thầy không đánh vì nó học giỏi chứ nếu học dỡ
cũng đánh như thường.” Sau đó thầy bảo anh Tâm về chỗ ngồi.
Hiện anh Bùi Hảo Tâm còn ở huyện Kế Sách Tỉnh Sóc Trăng (làm
nghề nuôi cá tra, Ba sa xuất khẩu).
Tôi nhắc đến thầy Ba Trương với
lòng tiếc thương và tôn kính vô hạn. Với cương vị của một
người thầy giáo có tuổi nghề và tuổi đời, Thầy là bậc “Thái
sơn Bắc đẩu” trong hàng ngũ giáo viên của Trường Trung học
Tổng hợp Phan Thanh Giản. Nhiều thế hệ nhà giáo từng là học
trò của thầy, có lẽ thầy tuổi dần (sinh năm Giáp Dần 1914)
nên tính thầy rất nóng và nghiêm khắc.
Nhưng trong những lần gặp nhau giữa các thầy cô, các
bạn đồng môn ai cũng nhắc đến Thầy như một lần nhớ về tuổi
thơ dưới mái trường Phan Thanh Giản thân yêu. Dù bị đánh oan
hay ưng, chưa bao giờ tôi nghe lời nói nào của các bạn,
thiếu sự tôn kính đối với thầy, cũng như các thầy khác tại
trường. Thầy mất năm 1993, ở tuổi 80, an táng tại xã Lộc
Thuận huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre. Qua cầu An Hóa về hướng
Bình Đại 4 cây số là tới mộ thầy (đặc biệt ở quê người dân
gọi thầy là ông Bảy Trương). Thầy nóng tính nghiêm khắc như
thế, nhưng hầu như nhắc đến thầy, mỗi người đều nhắc với sự
kính trọng. Thế hệ chúng tôi tôn sư trọng đạo là thế.
Hôm nay, mạn
phép các bậc thầy cô và các bậc đàn anh, tôi có một số dòng
nhắc đến một người thầy hết sức đặc biệt, phong cách và cá
tính sống mãi với thời gian, nếu tôi có nói điều gì đó chưa
đúng hoặc bất kính với thầy các bạn hãy tha lỗi cho tôi, vì
xuất phát từ tấm lòng kính trọng yêu mến thầy, tôi mới có
những dòng chữ để nhắc về người thầy đặc biệt của chúng ta.
Những dòng chữ này cũng như một nén nhang, thành kính nhớ
thầy Ba Trương, đồng thời cũng nhớ đến quý thầy cô giảng dạy
cùng thời với thầy như: thầy Phan Văn Đặng, thầy Lý Quang
Lịch, thầy Lương Vinh Sanh, thầy Trương Văn Hòa, thầy Cao
Văn Tư, thầy Lâm Văn Ba, thầy Trương Nam, thầy Bùi Văn Vần,
Cô Nguyễn Kim Liên (Hai thầy cô sau dạy tôi ở bậc tiểu học).
Kỷ niệm lúc nào cũng đẹp, nhất là kỷ niệm tuổi học trò.
Những đứa học trò nhỏ của các thầy nay tiếp tục làm thầy,
nhưng chúng con thấy không gian ngày nay rộng quá, tìm gặp
quý thầy xưa vô cùng khó. Dù trong lúc đi học chúng con nhận
được sự dạy dỗ nghiêm khắc của quý thầy cô, nhưng lúc nào
chúng con cũng tri ân và nhớ rằng “thương cho roi cho vọt”.
Trong thực tại hay ở một nơi nào đó chúng con vẫn cầu mong
thầy cô được thanh tịnh an lòng, vì thế hệ chúng con vẫn
tiếp bước noi gương quý thầy cô, nhớ và làm theo những lời
dạy bảo. Câu nói của người xưa luôn khắc ghi trong dạ chúng
con “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”.
“Từ đây hạc nội mây ngàn,
Gặp nhau trong giấc kê vàng mà
thôi.
Lương sư chín suối thảnh thơi
Sân Trình, cửa Khổng biết đời nào
quên.”
Mãi mãi thành
kính nhớ thầy!
NGUYỄN
VĂN QUYỀN
(Chs PTG nk 1968-1975)
***************************************
Sông Thơm
Lê Thị Dung
CHS
Phan Thanh Giản 1955-1959
Đó là con sông Hậu quê tôi.
Sông Hương ở Huế
thì thơm sẵn ngay cái tên, lại gợi cho người nghe một hình
dáng dịu dàng nền nã của một cô gái xinh đẹp. Còn con sông
hiền hậu của tôi như một đấng nam nhi tràn trề sinh lực,
luôn dang tay bảo vệ bao nhiêu đất và người.
Mỗi con người dường
như chỉ gắn bó với một dòng sông vì ai cũng chỉ có một tuổi
thơ để nhớ. Có nhà văn đã viết: “Những ai đã từng sống gắn
bó bên cạnh một dòng sông thì suốt đời mê mải dòng sông đó”.
Thật vậy. Ngay từ
nhỏ, dòng sông Hậu đối với tôi là một cái gì lớn lao như
biển cả. Lúc ấy tôi chưa từng được ngắm biển nhưng tôi nghĩ
biển chắc cũng lớn như thế là cùng. Đứng bên này sông không
thể thấy được bên kia sông .
Sao lại dám so sánh
khập khiểng ngu dốt đến vậy. Chắc cũng giống như cách so
sánh về mẹ, “mẹ tôi là người mẹ tuyệt vời nhất trên đời này”
vậy .
Trong cảm giác mơ hồ
non nớt của tuổi thơ, bên kia sông là một vùng khói mông
lung gắn liền những truyện cổ tích có Bà Chằn thích ăn thịt
con nít vì mềm và thơm. Cũng nhờ cách nghĩ thực và mộng lẫn
lộn này nên tôi đã có một tuổi thơ êm đềm kể hoài cũng không
hết.
Đó là những ngày học
lớp Sáu lớp Bảy. Bến Ninh Kiều sáng sớm, leo cầu tuột, đứng
đu dây, ngồi bấp bênh.. là sân chơi của lũ con nít chúng tôi
mỗi ngày.
Đèn đường chưa tắt,
mới hơn năm giờ sáng đã nghe tiếng í ới của lũ bạn ngoài
đường, phân công xếp đặt sẵn, Hà chở Tuyết, Mai chở Dung,
bốn đứa hẹn giờ ra đợi sẵn vài đứa nữa. Tuổi này thì không
được phép leo lên xích đu nhưng nếu chú bảo vệ đến đuổi thì
xúm nhau năn nỉ. Quần áo dơ bẩn xốc xếch mà vui quá trời,
chạy về nhà là xách cặp đi học liền. Ngày nào cũng vậy.
Tháng mười, nước to
tràn cả lên mặt đường, có chỗ phải xăn quần mà lội. Nước lớn
làm người lớn lo sợ nhưng lũ con nít chúng tôi vô cùng khoái
trá. Hình như lúc này con nít được tự do hơn vì người lớn
mải còn lo việc con nước lớn…
Rồi tuổi thơ qua
mau, vào Đệ tam, mỗi khi nghỉ học lại rủ nhau đi đò qua bên
kia Xóm chài, rất sợ nước, sợ sóng gió mà vẫn đi, nắm chặt
tay bạn, nắm chặt nón lá, sợ bay nón rồi bay luôn cả mình.
Gần Tết, tôm càng
xanh rẻ mạt. Nhất là hôm nào kẹt đường, từ Ngã Bảy Phụng
Hiệp tôm chở ra không kịp buổi chợ, người bán méo mặt, người
mua mừng húm, tha hồ mà làm bánh phồng tôm. Bên kia cầu Sáu
Thanh nhìn sang cồn ấu, người ta giở chà thì tôm cũng nhiều
vô số kể. Tôi nhớ lúc ấy giá kí lô tôm trứng bằng kí lô
đường cát trắng.
Mùa tôm là mùa vui,
là mùa có lý do đi ra ngoài mua tôm để tha hồ rong chơi chạy
nhảy.
Hôm đó hơn bốn giờ
chiều, nắng bắt đầu dịu, có người rủ đi qua cồn ấu, mẹ bảo ừ
đi mua cho nhà mình nữa, thế là, được lời như cởi tấm lòng,
tôi vác giỏ đi theo.
Qua Bắc Cần thơ, bơi
xuồng đi loanh quanh, nhìn cái gì cũng muốn hái, bông súng
hồng, bông sen hồng, bông ấu trắng nhỏ xíu.. còn hỏi thăm
trồng ấu bằng cách nào, sao ở đây nhiều sen quá mà không ai
hái bán..Với tay nâng nhẹ mấy chiếc lá ấu giơ lên xem, củ ấu
lủng lẳng ở bộ rể chùm, màu hồng non cắn giòn ngọt xớt,
những củ già rụng rất nhanh để chờ mùa sau. Vậy mà trước giờ
cứ tưởng ấu là trái: “Thương nhau trái ấu cũng tròn”, cũng
có thể là tôi nhớ nhầm câu ca dao này chăng ?
Một củ ấu già rụng,
tôi nhanh tay chụp, chiếc xuồng chòng chành. Cả bọn cười rú,
không đứa nào biết lội nhưng không chút sợ hãi, dù vẫn biết
chỗ này sâu ngập đầu. Mua tôm xong, nhìn ngút tầm mắt xa kia
là Bến Ninh Kiều, đèn sáng đủ màu vui quá, nhìn lại Cồn ấu
sao chỉ một màu tối thui buồn ảm đạm.
Gió bắt đầu thổi
mạnh, sóng to xô tắp dưới chân cầu, chiếc xuồng khó lòng trụ
nổi, phải quay nhanh vào bờ thôi. Đứng trên bờ sông Hậu vào
lúc chập tối như thế này mới thấy rờn rợn da thịt. Dường như
nỗi sợ bắt đầu. Nếu hồi nãy sẩy chân thì coi như chấm hết.
Không ai nhảy xuống kịp mà vớt lên. Nuốt trộng một con người
không làm no lòng con sông lớn, bao nhiêu cũng không đủ với
nó.
Vậy mà, con sông dữ
ấy nhìn từ xa lại thấy thơ mộng vô cùng.
Gió từ đâu mang lại
chút hương thơm. Không thể nhận biết là mùi hương của loài
hoa cỏ nào. Mùi của hương đồng cỏ nội, của bạt ngàn sông
nước.
Cái mùi hương của
sông thơm hòa quyện trộn lẫn mùi hương ngan ngát của tuổi ấu
thơ, của dòng nhớ về cha mẹ, về bạn bè thầy cô, về những con
đường, những mái nhà, những nơi chốn đi về…của những giờ học
Nữ công gia chánh là những giờ quậy phá nói chuyện cười
nhiều hơn trong lớp, của những giờ tập Thể dục đi đi từ sáng
sớm giơ chân giơ tay phát mỏi…vậy mà một tuần chỉ mong đến
giờ Thể dục Nữ công. Đâu phải giỏi giang gì ba cái chuyện
bếp núc, khỏe mạnh gì mấy cái co tay duỗi chân…..chẳng qua
vì tuổi con nít hiếu động quá cỡ. Ngồi bó chân chống tay
trong lớp phát ngán rồi, chỉ khoái cựa quậy, khoái nhảy nhót
cười đùa, dù học thì cũng ham, điểm thì lại càng ham nữa.
Rồi cái mùi hương ấy
theo tôi đến lớn .
Dòng sông thơm đã
thấm vào da thịt tôi, trí não tôi, đi đâu tôi cũng vẫn chỉ
thấy con sông Hậu quê mình là đẹp nhất, mới đúng gọi là sông.
Khi về dạy học ở
Bằng Tăng cách Cần Thơ gần ba mươi cây số, tôi ở lại Trường.
Mỗi sáng thức dậy ra
bờ sông nhìn nước chảy, lục bình trôi, lòng thấy sảng khoái
lạ . Chiếc áo mặc củ xì cũng không hề gì với cô giáo trẻ, cô
không quan tâm. Mà lại thấy tự dưng cô trở thành giàu có với
ngộp trời sông thơm.
Gió sông mát rượi
dịu dàng mơn man da thịt, cô giáo hít sâu vào lồng ngực. Mùi
nước sông ngào ngạt thơm phức, như mùi bắp luộc, mía luộc,
mùi cơm gạo lúa mới .
Nghe cô giáo khen
nước sông sao mà thơm, ai cũng mắc cười.
Ở quê khi xưa ít khi
thấy người ta trồng hoa, có lẽ vì đất để dành trồng cái gì
ăn được còn hoa phần nhiều chỉ để ngắm. Cũng ít ai để ý mà
khen mùi thơm của lúa chín, của rơm rạ, mùi của đất trong
trận mưa đầu mùa… thì nói gì đến mùi của nước sông.
Vào mùa xoài, hoa
xoài thơm hắt một mùi, mùa cam bưởi thì khỏi nói cũng biết
là thơm như thế nào. Vậy mà chẳng nghe ai khen thơm, coi như
đó là lẽ tự nhiên phải thế.
Khen mùi thơm của
đất trời như lời cảm ơn Tạo hóa đã ban tặng cho con người
biết bao cái thơm cái đẹp..Vậy mà cũng hà tiện tiếc một lời
khen .
Mùi sông thơm ấy đã
theo tôi qua từng nơi chốn tôi đi qua, trở thành nỗi ám ảnh
khôn nguôi. Có khi là một trong những lý do réo gọi tôi trở
về quê Cần thơ, chỉ để ăn một chén bánh lọt, một ly bông cỏ
hay chỉ để hít thở mùi thơm quen thuộc ấy của sông thơm, như
mùi thơm quen thuộc của người cũ….. lòng như ấm hẳn đi, sống
lâu thêm vài năm nữa.
Sông như thế mới gọi
là sông, là phải trong xanh, là phải ngập tràn nước. Bao
nhiêu con người, động thực vật sống nhờ vào sông. Sông mà
khác đi là sông sẽ chết mà bao nhiêu loài khác cũng dần dần
chết theo .
Có những con sông
tội nghiệp một màu đen ngòm, ai đi ngang qua cũng nín thở,
vì nước thải nhà máy tha hồ tung hoành, tôi lại càng nhớ và
tự hào về con sông thơm quê tôi.
Tôi thấy thương cho
những người sống dọc theo bờ sông đen ô nhiễm đó, không biết
họ có từng được hít thở con sông thơm quê họ chăng, mà giờ
đây phải ngậm ngùi sống chung với sông, với kênh nước đen?
Sông Hậu là một
nhánh của sông Mê kông. Gần đây nghe nói ở đầu nguồn, người
ta xây đập ngăn nước không biết vì sao. Sự thay đổi xem ra
lành ít dữ nhiều. Phù sa, tôm cá chắc chắn chịu ảnh hưởng
ghê gớm, giận quá. Cũng nghe nói Mũi Cà mau sẽ bị cụt mất
cái mũi trong vài chục năm nữa, thì đâu còn gọi là mũi nữa.
Câu: “Nước VN hình cong như chữ S, từ Ải Nam quan tới Mũi Cà
mau…” phải sửa lại như thế nào đây. Làm sao nói với con cháu
sau này tự hào về đất nước ta rừng vàng biển bạc, chim đầy
trời cá đầy sông, núi non trùng trùng điệp điệp…
Những ai bây giờ
đang khai thác triệt để sông thơm, nếu nó ngưng chảy thì nỗi
nhớ sau này của họ chỉ là dòng chảy của sông Hậu một thời đã
nuôi sống họ. Họ sẽ tự đi tìm một dòng chảy khác để mưu
sinh.
Còn tôi và các bạn
tôi, nếu dòng sông thơm có bề gì, thì dòng nhớ về một thời
tuổi trẻ, về quê hương Cần thơ, vẫn mãi mãi là dòng chảy
trong tâm thức lấp lánh đến tận vô cùng.
Tuổi già có nhiều
cái không tệ như mình vẫn tưởng, già thì có gì để nói ? Có
chứ, có nhiều cái để nói lắm. Người Già nhớ về quá khứ để
người Trẻ soi gương nhìn thấy tương lai.
Nhờ già mà ta nghiệm
ra được nhiều thứ hay mà lúc trẻ đố biết được. Nhờ già mà
ta thấy yêu cuộc đời hơn không hẵn là vì sắp phải xa nó, mà
vì ngộ ra được rằng cuộc đời là dâu bể, là vô thường; con gà
và củ khoai chưa biết cái nào hơn; sóng thần ập đến thì mọi
thứ đều là vô nghĩa. Có người lúc trẻ không dám nhìn xác
chết, lúc già tự tay sắm đồ tẩn liệm, ngồi tỉ mỉ sơn phết
quan tài của chính mình…đó là vì đã “ngộ”.
Nhờ già mà biết mình
thương cái gì nhất, nhớ cái gì nhất, muốn cái gì nhất… chờ
có điều kiện là đi tìm ngay. Công danh sự nghiệp đã xa rồi,
nhà cửa con cái đã xong rồi. Và nỗi nhớ lại trở thành nỗi
khát vọng bừng bừng… Có khi chỉ là ăn củ khoai Dương ngọc
nướng sau nhà với lũ bạn giành nhau ăn. Có khi chỉ là xăng
quần lội ruộng bắt ốc hái rau, mưa rào ướt hết người ngước
lên trời uống từng ngụm…bao nhiêu mới kể cho hết .
Sống lâu mới được
thành già.
Già nhưng mà trẻ
hoài trong nỗi nhớ khắc khoải dòng sông xưa. Người ta nói ai
còn ham muốn nhớ thương là còn sống lâu lắm. Tôi cũng mong
được vậy.
Nhớ Cần Thơ, viết
1/11/2011
Lê thị Dung
|