Thêm một bút tích tâm tình của
Lê Ngọc Ánh
Kính thưa quý Thầy Cô, quý đồng môn,
Hôm nay, 17/11/2005, tức là đúng 7 tháng 14 ngày, từ khi đồng môn Lê Ngọc Ánh ra đi, tôi nhận được mấy dòng thư mộc mạc nhưng đầy xúc động của cháu Lê Ngọc Long, con trai của Lê Ngọc Ánh, báo tin cho hay gia đình mới tìm được một bài viết của Lê Ngọc Ánh trong những ngày phấn đấu với tử thần trong bệnh viện.
Tôi xin ghi lại nguyên văn bức thư của cháu lê Ngọc Long và bài viết cuối cùng của đồng môn Lê Ngọc Ánh vào trang nhà của Gia đình PTG-ĐTĐ để bày tỏ sự quý mến thiết tha của chúng ta, mong làm ấm lòng người đã khuất.
Lê Thiện Phúc
Thưa Quý Cô Chú kính,
Con tên là Lê Ngọc Long, là con trai của Lê Ngọc Ánh.
Gia đình con có tìm được một bài viết của Ba con viết lúc Ba con nàm trong bệnh viện. Kính nhờ các Cô Chú nếu có thể giúp gia đình con bằng cách là để bài viết của Ba con vào trang Web của trường trong mục "NHỮNG BÚT TÍCH TÂM TÌNH LÊ NGỌC ÁNH" và trong tập san PTGDTD lần tới. Gia đình con xin chân thành cám ơn các Cô Chú rất nhiều.
Chân thành,
Lê Ngọc Long.
Tôi Cũng Mê Cổ Nhạc Lắm
Tôi cũng mê cỗ nhạc lắm, dân Nam kỳ mà, hơn nữa là dân miệt vườn, ai mà không khóai cổ nhạc. Quê tôi ở Cái Sâu, các gánh cải lương phải đi bằng ghe mới đến và hát ở trong Đình.
Không có tiền mua vé phải "chui lổ chó ", hoặc đứng xớ rớ cho người nào đó hảo tâm dắt vô dùm. Các tuồng tích mà tôi còn nhớ được như Tôn Tẩn giả điên, Tôn Tẩn Hạ San. Lưu Kim Đính giải giây Thọ Châu, Cánh Bườm Đen,… Rồi tới giai đọan hát dĩa quay dây thiều, với các tuồng cải lương như: Phạm Công & Cúc Hoa (Năm Nghĩa), Tô Ánh Ngụyêt ( với Năm Nghĩa), Đời Cô Lựu (không nhớ tên tài tử), Đường Về Tổ Quốc. Dưới Lá Quốc Kỳ. Phất Cờ Độc Lập. Máu Thắm Tần Hoàn Đảo. (Minh Chí, Thành Công, cô Tư Soạn , Năm Cần Thơ, Kim Chưỡng…). Hoa Rơi Cửa Phật (Năm Nghĩa, Cô Tư Soạn, Tám Thưa…). Ngày Về Cố Quận (Út Trà Ôn..). Cát Bụi Đô Thành (Thanh Tao, Ba Trà Vinh…). Non Tình Bể Hận, Sơn Tinh Thủy Tinh. (Minh Chí, Thanh Tao, Bạch Huệ …). Hận Ô Giang (Minh Chí, Ngọc Xưng, Ba Tuy…). Nguyệt Thu Nga (Minh Chí – Thành Công – cô Ngọc Ánh …)
Còn về Vọng cổ, ca tài tử , thì tôi mê : Kiếp Con Tầm (Thành Công). Tôn Tẩn Giả Diên (Út Trà Ôn ). Đời Nghệ Sĩ (không nhớ tên ca sĩ). Vó Ngựa Biên Thùy. Đồng bạc giấy. Gái giang hồ … (Thành Công ). Lê Lợi (Minh Chí). Anh chàng dốt (Sáu Thòang). Con Chim Hoạ Mi (Cô Năm Cần Thơ). Đó là thời mà Vọng Cổ ca đủ 20 câu, chớ không phải 4, 5, hay 6 câu như sau này.
Hồi xưa tôi nhớ nằm lòng bài Con Chim Họa Mi của Nguyễn Văn Dương, do cô Năm Cần Thơ ca. Bây giờ quên đi rất nhiều, thời thơ ngây ấy tôi vẫn không quên bài khôi hài "Chó Lúa " trong một dĩa Asia, khi nghe mọi người sẽ cười quên thôi. Lớn lên tôi mới biết nội dung rất thâm trầm, và đạo lý. Tiếc là tôi không nhớ rõ Tác Giả, và hai nghệ sĩ trình diển. Nếu có bạn nào còn nhớ, hoặc còn dĩa nhựa thì cho xin một copy, thật là quí qúa.
Còn về soạn giả thì tôi không nhớ rõ các bài trên là do ai sáng tác. Đó là một thiếu sót rất lớn trong việc định giá tài danh nào có công lớn nhất trong Dòng Nhạc Cổ Việt Nam (Miền Nam). Tôi chỉ dám nói rằng Viễn Châu có công đóng góp khá lớn cho sự phong phú của nền ca nhạc cổ VN. Hình như Ông cũng là một nhạc sĩ có tài, có tên là Bảy Bá (?), cùng thời với Năm Cơ, Văn Vĩ. Còn vị trí của Ông như thế nào thì khó mà định được vì mình không có đầy đủ dữ kiện của tất cả các nghệ sĩ người sáng tác nhạc cổ Miền Nam. Cũng như trong tất cả các loài trái cây, phải nếm đủ hết mỗi loại trái thì mới có thể rút ra cho mình một kết luận là trái nào ngon nhất đối với mình, và chỉ đối với mình, vì mỗi người có một trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật, khó có ai giống ai, và nghệ thuật không có chân lý tuyệt đối cũng như khoa học … Nếu nghệ thuật là một biểu lộ những suy tư, tình cảm, nếp sống của người dân đương thời, và cổ nhạc, cũng như các thể loại nghệ thuật khác, đạt được một giá trị cao khi nó chuyển cho được tâm tình trung thực của người dân, nó đi vào lòng người một cách dễ dàng, không vay mượn, không kiểu cách, thì Vọng Cổ là một nghệ thuật tuyệt vời. Nếu ở trong hoàn cảnh xa xứ như tôi thì sẽ gợi nhớ về quê nhà, về hình ảnh quê hương, không có gì bằng bài ca Vọng Cổ. Nếu chiếc áo bà ba, cái nón lá là " Quê hương" khi ta nhìn thấy, thì bài ca vọng cổ là "Quê hương" khi ta nghe thấy. Nó đi thẳng vào trái tim ta để đưa ta về lại nơi ta đã sanh ra và lớn lên với vô vàng kỷ niệm, mà ta không thể tìm được bất cứ nơi nào khác trên trái đất này, ngoài nơi chôn nhau cắt rún.
TABC không tạo cho tôi một rung cảm đậm đà như bài gì (tôi quên tên) do cô Phượng Liên ca nói về người cha đi theo kháng chiến, người con gái ở lại đưa đò trên bến sông. Rồi một ngày kia người con gái cũng theo tiếng gọi non sông mà lên đường.., để "Trên bến sông…, Vắng bóng con đò năm xưa… Mẹ cầm chèo thay chị sớm trưa… Chờ đợi mong bao kẻ lên đường, Sống chết coi thường. Cha anh là những người đi trước, Chị và tôi nối bước theo sau…". Tiếng ca được chấm dứt ở đó nhưng còn vang vọng mãi trong lòng tôi.
Mỗi đêm nằm trong trại tù cải tạo, cho nghe bài vọng cổ cuối cùng của ngày, để lòng miên man tưởng đến nét hào hùng của cha anh thời kháng chiến chống Tây đuổi giặc. Hoặc một Út Trà Ôn trong "Ông Cò Quận 9": " Tôi khóc mỗi lần thấy bông Ô Môi nở hồng trong gió chướng, mỗi lần nghe tiếng quết bánh phồng rộn rã đón xuân sang, mỗi lần về Vĩnh Long qua Tân Ngãi ghé nhà chợ Trường An. Là mỗi bận tôi nhớ đến mùa xuân của đầu năm binh lửa. Nhớ đến bóng dáng người vợ nhỏ chèo xuồng qua sông Mỹ Thuận để đưa tôi rời Tỉnh Long Hồ…". Hoặc một chổ khác :…
"Tôi đứng đây mà ngỡ như đứng bên bờ sông Mỹ Thuận,
Khi mình quay xuồng tách bến trở lại với hai con.
Bờ cây xa mờ nhuộm bóng hoàng hôn,
Con nước lớn lục bình trôi rời rả,
Chiều đã xuống mặt trường giang bát ngát mà bóng người thương còn lẩn khuất giửa sông đầy…
Tôi liên tưởng đến ngày sau mẹ con mình lận đận trên dòng đời. Không bảo bọc được mẹ con mình tôi ray rức không nguôi. Không phải tôi nói để được mình thương, chớ hồi đó tôi tìm mình trên khắp tỉnh Vĩnh Long. Mà hởi ơi sông dài biết đâu tăm cá, mà đường xa thì vắng bặt tin nhạn…."
Người sáng tác đã dùng những hình ảnh rất bình thường trong cuộc sống hằng ngày: Những tiếng quết bánh phồng, những cảnh bông Ô Môi âm thầm nở, những dề lục bình trôi mùa nước nổi…, chớ không phải là những hình ảnh khuông sáo đã có sẳn mà ai cũng biết: Để nói lên mùa xuân thì phải dùng con én (đưa thoi), phải nhắc đến những cảnh mai vàng, những tà áo mới… Đối với tôi, nó là nghệ thuật cao, vì nó dùng những chất liệu mới để đạt được sự rung động trong người xem, nghe. Người nghệ sĩ dùng những chất liệu có tính cách gây sự xúc cảm nơi người đọc, người nghe, nhằm truyền đạt xúc cảm đó đến họ để họ tự thấy, tự kết luận, chớ nghệ sĩ không kết luận dùm cho người nghe. Nghệ thuật cao hay thấp là ở chỗ đó. Theo tôi, thì TABC, không có được nghệ thuật diển đạt như vậy. Bỏ qua chuyện "nước mắt tuông dằm" của anh bán chiếu có hợp tình hợp cảnh hay không, người Việt không dùng những "chất liệu khả xúc" (sensible quality) để gây được ấn tượng đó nơi người nghe, mà phải để cho chính anh bán chiếu phải nói lên để truyền đạt cái cảm xúc đó đến người nghe. Hãy thử đi một chút vào bức tranh này:
Tha La một thời … " có trái ngọt cây lành", một thời thanh bình quá khứ, nhưng bây giờ là "rừng xanh, rừng xanh…". Viễn khách hỏi:
"Vì sao Tha La vắng vẻ Cụ Già ngạo nghể cười rung rung râu trắng". Giữa bối cảnh hoang tàn đổ nát của Tha La nổi bật lên hình ảnh cụ già ngạo nghễ cười làm rung rung hàm râu trắng…, cái hình ảnh đó đã tự nó nói lên cái nét hào hùng, bất khuất của người dân Tha La, của cả một dân tộc.
Tôi nghĩ đó là nghệ thuật rất cao vì đã gây được xúc cảm nơi người đọc bằng những hình ảnh chớ không cần tác giả hay nhân vật nói dùm.
Sẽ tiếp theo later.
Lê Ngọc Ánh
(Có sự góp ý của Lê Ngọc Ẩn )