THUỞ CÒN CẮP SÁCH
Lê Ngọc Ánh
CHS PTG 58-61

Quê tôi ở làng Phú Thứ, nằm cạnh con sông, không biết bao sâu, nhưng người ta gọi là Cái Sâu. Từ quê nghèo Cái Sâu đi lên "tỉnh lỵ ánh sáng" Cần thơ, phải đi qua khu Lò gạch, xóm Cái Tôm, rạch Cái Đôi, qua con đò ngang, trước khi đến Xóm Củi, qua cầu Bà Hơn, vào Xóm Chài, nơi có nhiều chiếc đò ngang, đưa ta về với Tây Đô yêu dấu. Con đường lộ đất, với không hơn bốn cây số chiều dài, mà như muôn trùng diệu vợi đối với thằng bé thời cắp sách.
Từ trong những vùng sâu hơn, như Phú Trung, Bùng Binh, Mù U, cho đến Xóm Lò Gạch, Xóm Cái Tôm, các trẻ em tới tuổi đi học đều vào trường sơ cấp Phú thứ. Trường chỉ có hai lớp duy nhứt: Đồng Ấu (lớp Một), và Dự bị (lớp Hai).
Thầy khai tâm của lũ chúng tôi là thầy Lê văn Bổn. Sĩ số học sinh cuả cả hai lớp gộp lại không quá 50 trò,, nên thầy thu xếp cho cả hai lớp vào trong một phòng học, một bên làm công việc nầy thì bên kia làm công việc khác..
Cuộc sống mộc mạc ở vùng đồng quê làm cho mọi người gần gũi, và hiểu biết nhau hơn, khác hẳn với văn minh bốn “bức vách “ở thành phố. Mỗi khi có một nải chuối lớn, một trái bầu ngon, Ba Má đều sai tôi mang các món cây nhà lá vườn qua biếu thầy cô. Mùng Ba tết năm nào, hai anh em chúng tôi cũng đều mang hai chai xá xị hiệu con cọp, và một gói mức đến mừng tuổi thầy cô, như người ta thường nói:”Mùng một tết cha, mùng ba tết thầy". Cái ý niệm "Quân,Sư, Phụ" như còn ảnh hưởng nặng nề lên Ba tôi, nên cung kính Thầy là điều đầu tiên Ba tôi muốn thấy nơi các đứa con của mình.
Ở cáí tuổi thơ dại nầy, tôi chưa có ý niệm về sự hy sinh của cha mẹ, chỉ biết một cách đơn giản rằng hể trẻ con đến tuổi đi học, thì cha mẹ đương nhiên cho con cái đến trường. Cái sự đương nhiên đó không phải là
đương nhi
ên chút nào, khi tôi có dịp so sánh cách giải quyết của cha mẹ các bạn cùng lứa tuổi với tôi. Nhiều đứa trẻ không bao giờ được dịp cắp sách đến trường, vì gia đình quá nghèo. Có đứa được đi học đủ để biết đọc, biết viết, rồi phải ở nhà chăm sóc các em, hoặc phụ giúp cha mẹ trong việc đồng áng.Gia đình tôi tổng cộng có bảy miệng ăn, làm tá điền, chớ không có một miếng đất để “chọi chim’. Tới mùa "đông ken”, mùa mà mọi sinh hoạt khác phải nhường chỗ cho việc gieo cấy đúng thời vụ. mọi người đều đổ xô ra đồng, làm bất cứ việc gì có thể được để theo kịp với con nước. Anh em chúng tôi cũng được trưng dụng ra đồng. Gieo mạ, nhổ mạ, tiếp dẫn các giề mạ, cào cỏ, kéo lúa đến cho thợ cấy, làm cỏ lúa, …Tới mùa lúa chín, thì tiếp tay gặt lúa, mót lúa, (tìm nhặt những bông lúa rơi rớt lại sau khi cắt xong), đội lúa bằng những chiếc thúng xuống ghe, chở về nhà..
Tuổi thơ của trẻ con nhà nghèo không có được những giấc mơ ngà ngọc, những bình minh đuổi hoa bắt bướm, những chiều vàng chân sáo chơi rong…Thay vào đó là những hôm đi hái bông súng ở nhửng đầm lầy, hái rau dừa dọc theo bờ ruộng, ngắt bông điên điển trong những ngày nước nổi. Đồ chơi là nhữngtrái mù u phơi khô, cạo vỏ, làm những hòn bi, bồn cái lông gà kết lại với mấy miếng mo cau, cắt làm đế cho trò chơi đá cầu, hoặc năm bảy thằng quần thảo một trái bưỡi non rụng sớm ở góc vườn, một tận túc cầu…
Cuối năm Dự Bị, có khoảng 15 hoc trò của thầy Bổn được lên lớp Ba, trong đó có anh em tôi. Muốn tiếp tục thì phải lên học tại trường sơ cấp Mỹ Hưng (Xóm Chài), cách Cái sâu non ba cây sô. Sự khó khăn của học trò là phải vượt qua rạch Cái đôi, có đò ngang, nhưng chủ đò không mấy cảm tình với khách học trò miễn phi. Nhiều buổi chiều mưa trên bến vắng, học trò phải lội qua sông, tay cầm quần áo, tập vở,…, tay chân kia cố bường trên con nước mà "đi”. Nhưng những khó khăn đó làm sao so sánh được những nỗi lo cơm áo, gạo tiền, của bậc cha mẹ…Cho con đi học xa là mất một sức lao động, dầu bé nhỏ, nhưng với sự nghèo túng, thí đóng góp nào cũng đáng quý, chi phí nào cũng đáng cân phân.
Cho nên trong 15 đứa được lên lớp, chỉ còn lại 6, 7 đứa được đi học Xóm Chài. Làm sao có thể quên được hình ảnh má tôi phải thức dậy sớm chuẩn bị từng thố cơm cho hai anh em, chờ gá gáy sáng lần thứ hai, đánh thức con dậy để cùng đi học với mấy đứa kia, hoặc thức chờ ghe xuồng đi chợ, gởi hai đứa nhỏ đi nhờ. Buổi trưa hai anh em tấp vào nhà người quen ăn cơm, chờ buổi học chiều…
Rồi những ngày đi học Xóm Chài với thố cơm, và lội ngang sông cũng trôi xuôi theo năm tháng, cùng với nỗi nhọc nhằn chồng chất thêm trên tuổi xế chiều của hai thân, và sự vô tâm của con cái. Chúng tôi phải xa rời trường sơ cấp Mỷ Hưng, bò lên lờp Nhì trường Nam tỉnh lỵ. Hoàn cảnh mới, nỗi lo mới cho cha mẹ…
Điều may mắn l
à chúng tôi có thể tá túc nhà người cậu ở sau lưng thành six `eme, sau nầy là trại Quân Cụ, trên Cái Khế. Bù đắp vào sự giúp đở của cậu mợ, ba má tôi phải mang lên mỗi tháng một giạ gạo cho chi phí ăn ở. Nhà đã nghèo, lại sa sút hơn trong cơn bịnh dai dẳn của Ba. Tới một lúc quá khó khăn, một trong hai đứa nhỏ phải nghỉ học để giảm bớt chi phí, đứa lớn phải hy sinh cho đứa nhỏ. Còn tôi được may mắn đưa đẩy vào cái nghề lượm banh ở sân quần vợt năm mười một tuổi, cuối lớp Nhì cho đến năm học lớp Đệ lục.Tuổi thơ bây giờ lại được trang bị thêm bằng những cuộc bắn bi bằng đạn mắt mèo ở góc đường Trịnh tấn Truyện & Võ Tánh, gần nhà thầy Ngô văn Bảy, những trận tennis bằng vợt đẽo, những chiều quét lá bả đậu, hột dương ở sân Tòa Bố, những giọt mồ hôi ướt dẫm lưng với tấm bố tời, cố lau khô các vũng nước mưa trên sân banh…Những ngưỡng mộ mà-không-bao-giờ-dám-ước-mơ, khi nhìn anh Phan Trung Hiến ra sân với bộ quần áo, giày vớ trắng tinh, hoặc anh Trần Đình Bá, với phong thái của một công tử, theo cha chơi tennis.
Những năm vừa lượm banh, vừa đi học nầy đã giúp tôi có cơ hội, không những bớt đi gánh nặng của cha mẹ, mà còn đóng góp ít nhiều vào lợi tức của gia đình. Cũng trong lúc nầy tôi có dịp hiểu biết và rất thương mến anh Phan Lương Quan. Chúng tôi cùng học lớp Tiếp liên với thầy Đinh văn Hiếu, cùng với Nguyễn Hữu Hậu, Phạm thế Ngọc, Đinh thanh Xuân, Nguyễn Đức Thọ,..Tôi “thương” thầy nên ở lại hoc thêm một năm nữa. Anh vô nghề lượm banh không phải vì miếng cơm, manh áo như cả bọn còn lại, mà có lẽ vì tính hiếu kỳ, muốn tìm hiểu sinh hoạt và suy nghĩ của bọn nầy chăng? Sau nầy, gặp lại nhau ở Santa Clara, anh mới xác nhận điều đó. Anh muốn đi lượm banh “cho biết”.
Không bị thúc bách vì mặc cảm gánh nặng của gia đình, tôi quên mất tầm quan trọng của sự học. Cũng vào lớp, cũng "lều cũng chõng cũng đi thi”. Thi rớt, nhưng tôi lại không cảm được vị cay của ớt như Vị Xuyên tiên sinh. Cho đến một buổi sáng muộn, trên đường dẫn qua Cầu Đôi Cái Khế, nắng hạ nhạt hòa, loang lỗ trên mặt đường vắng xe, tiếng gió rì rào một bản nhạc không tên trên hai hàng sao già, tôi thật sự biết buồn, và lo sợ. Tôi đã không mang tin vui để đáp lại kỳ vọng của Ba Má. Tôi không còn cơ hội đi học nữa, nếu không được vào trường công, vì chắc chắn nhà không đủ trả học phí trường tư. Tôi không được thi nữa nếu quá 14 tuổi. Tôi đã phụ lòng mong đợi của Ba Má, sự hy sinh cả anh tôi…
Đó là chuyển điểm của tâm hồn non dại, và nỗi buồn thi trượt là ngọn lửa nung nấu trong lòng cho cơ hội cuối cùng, mà thầy Hiếu đã ban cho. Tôi thực sự "đi học”, theo cái nghĩa trung thực của nó, và đã lọt được vào trường Phan thanh Giản trong mùa thi 1958. Xin đốt nén hương lòng thành kính dâng lên thầy Đinh văn Hiếu với lòng biết ơn vô vàng của tụi con, Ngọc, Hậu, Hay, Các, và Ánh. Lớp học đã đầy trên tiêu chuẩn, vậy mà thầy vẫn cố nhét các đứa nhồi lớp vào, để cho tụi con còn cơ hội ngoi lên với đời. Tụi con đã không phụ sự giúp đỡ và mong mỏi của thầy! Sau nầy mỗi đứa theo một nẽo đường: thằng Hay theo ngành kiến trúc, thằng Hậu đi lính, thằng Ngọc Phạm chết trận, thằng Các bị thất lạc tin tức, còn con theo nghiệp của thầy…
Trở lại sân quần vợt, một vị ân nhân mà tôi không thể quên được: Thầy Sáu Lâm văn Giỏi. Thân hình thầy cao lớn, mặt đỏ hồng khi ra nắng, cặp đùi to, một chân bị thương (?) nên dáng đi hơi sượng một chút. Thầy Sáu là hội kế viên của trường trung học Phan thanh Giản, và cũng là Thủ quỷ của hội quần vợt Cầntho, (nhiệm kỳ 2 năm). Thầy đã giúp đứa học trò nghèo lượm banh, xin dược bán phần hộc bỗng của hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Phan thanh Giản, và chỉ cho cách xin học bỗng của chánh phủ vì con nhà nghèo, học giỏi trong suốt hai năm còn lại. Thầy đã gieo vào vườn tâm của đứa học trò một chủng tử của tình thương.
Qua sự giúp đỡ của thầy, đứa học trò đã vay một món nợ của những tầm lòng nhân ái như bác sĩ Phạm kim Tương…
Sự nghèo khó của gia đình càng lúc càng khép chặt những con đường đi tới của đứa học trò. Và vào giữa năm Đệ Lục, Ba đã từ bỏ các con sau một cơn bịnh dằng dai. Chi phí của gia đình bây giờ trông cậy chính yếu vào nghề mộc của người anh. Còn tôi, tôi không thể ngồi yên kéo dài sự học cùa mình khi nhìn thấy gánh nặng càng lúc càng chất chồng trên đôi vai cũng nhỏ bé của người anh. Tôi phải có một việc làm trong một thời gian ngắn nhất , tôi phải dự thi trung học Đệ Nhứt cấp vào năm tới. Quyết định rút ngắn thời gian đi học, khiến tôi không còn những lúc tập tụ chơi pingpong tại Khu Nam Công Chánh với Nguyễn Đức Thọ, những buổi chiều xế nắng, “ra sân” bằng vợt đẻo.. Và cuối cùng đã phài bỏ nghề lượm banh, để có đủ thì giờ, và tâm tri cho kỳ thi năm tới, 1961.
Mùa hè năm 61, cuối năm Đệ ngũ, hai thằng bạn nối khố, Trần Lộc Trọng và tôi, đã đẻo nhau trên chiếc xe đạp, qua trường thi Vĩnh Long. Không một người quen, thằng vào trường thi, thằng ngồi ngoài ngõ giữ đồ đạc, và thầp thỏm chờ kết quả sơ khởi. Buổi trưa hai thằng tấp vào quán cơm xã hội nhét một ít đồ ăn rẽ tiền vô bụng. Buổi tối, hai thằng vô gia cư nằm khoèo ngủ ngoài góc sân bóng rỗ. Trong giấc ngủ chập chờn, giữa tiếng vo ve của bầy muổi đói, có tiếng của một ân nhân gọi dậy, và giúp cho hai chỗ ngủ qua đêm trong căn nhà của chú Bảy Tả, nảm sau trường Nữ Tiểu học TL Vĩnh long. Đó là một căn bếp của trường, được sửa lại làm nhà ở cho người lao công, mà cũng là ân nhân của chúng tôi. Lại một tấm lòng vàng trong manh áo rách!
Lê văn Hùng, con chú Bảy Tá, nhắn qua cho biết có tên trong danh sách đậu! Nỗi mừng vui chưa dứt thì niềm ưu tư mới đã bắt đầu: Sẽ không còn được học ở Phan Thanh Giản nữa, vì "thi nhảy", không có học bạ liên tục!
Phải làm gì sau đó? Câu hỏi thật khó cho học trò nghèo, vì không có giải pháp "trường tư". Ngôi trường công lập duy nhứt, nơi đã nuôi mình khôn lớn, cũng đã đóng cửa cơ hội tiến thân! Xin kính biết ơn ông Mười Khai Trí, ông cho biết kỳ thi Sư Phạm cấp tốc mở ra mỗi tỉnh, sắp sửa bắt đầu, và đó là cửa ngõ cứu độ cho bước đường cùng.
Mùa học 1961, tôi bùi ngùi xa mái trường đã giúp tôi chuyển đổi cuộc đời, từ viễn tượng của một anh nông phu trẻ nào đó, đến một người nào đó có chút ít học vấn, Nỗi ngậm ngùi xa trường, xa bạn, xen lẫn với niềm hãnh diện với các bạn nghèo (trong đó có Nguyễn Xuân Cơ, Trần lộc Trọng, Trần ngọc Sơn):”Thằng Ánh đã lên mây vì thoát được cảnh nghèo!" Phải là những thằng khố rách mới cảm thông được những ước mơ đơn giản của họ. Những dân giàu như Viên tấn Nhơn, Hồ trung Thành, Lý thái Sơn… đâu có đứa nào đặt mục tiêu cho tương lai mình là thầy giáo quèn!
Năm 1961 cũng là điểm móc cuối cùng của thời cấp sách ở trung học, vì trong suốt những năm dạy học ở vùng sình lầy Chương thiện, chỉ có thể mua sách về học lấy mà thôi. Và rồi, mộ kinh nghiệm khác cho thấy việc tự học không thể thành công dược khi bước vào đại học. Một năm trời hoài công vì những lặn hụp ở Văn Khoa Saigon, “Đi không lặn hụp lại về không”. Và phải cảm kích nói lên sự biết ơn chân thành từ tấm lòng đối với những vị ân nhân đã vì những thế hệ đàn em mà hy sinh kiên trì, chịu khó vựơt mọi rào cãng, tạo phương tiện bằng sự hình thành viện Đại Học Cầnthơ, như giáo sư Nguyễn Văn Trường, GS Phạm Hoàng Hộ, thầy Nguyễn Trung Quân, và càc nhân sĩ Miền Tây khàc…
Ba năm trung học đã chuyển hóa cả một cuộc đời của thằng bé nhà nghèo. Ba năm dài thằng bé đã nhận những tấm lòng vàng, đã gặt hái những bài học tình thương, chìa bàn tay ra để cúu vớt những người khốn khó, sống cho mình và cho người để thấy cuộc đời đáng sống. Bài học đó tôi đã học được từ một ngôi trường, từ những con người đã xuất thân, đã đóng góp vào sự hình thành và lớn mạnh, không chỉ ở tầm vóc hữu hình, mà còn ở những đóng góp cho đất nước những tài năng, những giá trị đạo đức, làm sáng danh ngôi trường mang tên một tấm gương trung liệt, vì dân vì nước: trường TH Phan Thanh Giản.
Xin cảm ơn tâm hồn trong trắng của tuổi thơ không hằn sâu những mặc cảm thua kém. Xin cảm ơn và xót thương các bạn nghèo Cái sâu để tôi nhận thấy mình có phước hơn, còn được cắp sách đến trường. Xin cảm ơn Ba Má đã một đời hy sinh cho các con, với kỳ vọng các con lớn khôn, sẽ không còn cày sâu cuốc bẩm, sống đời cực khổ, cơ hàn. Xin cảm ơn thầy khai tâm Lê văn Bổn, xin cảm ơn thẩy Nguyễn Tường Khuyến, thầy Ngô văn Bảy, thầy Tân, thầy Thái, thầy Hiếu, thầy Sét…, đã dìu dắt con qua đoạn đường trẻ dại.
Xin cảm ơn các thầy đả dìu dắt con trong những năm trung học, làm hành trang căn bản cho con vào đời.
Xin cảm ơn thầy Sáu Giỏi đã dạy con bài học giúp người, xin cảm ơn những tấm lòng vàng trong hội Ái Hữu CHS Phan thanh Giản Cầnthơ, những tấm gương thành đạt đi trước, chìa bàn tay dẫn dắt đàn em kém may mắn.
Xin được ngưng những suy tư tản mạn nầy với ước mơ tiếp nối những gì đã vay từ ngôi trường thương mến, ngôi trường mà, như một linh mục nào đó ở Kiến Hòa đã nói với thầy Thắng(1), khi chỉ qua rừng dừa, bên kia bờ sông Kiến Hòa: ( phải) làm sứ mạng khai hóa, chống lại u mê, lầm lạc. Ngôi trường đó cũng đã đúc khung cho tôi thành một "tôi" như bây giờ, dầu có nổi trôi đến góc trời nào, tôi vẫn là một "Tuấn, chàng trai nước Việt"(2) của chị Thu Hương, như những ngày xa xưa.
Sunnyvale, tháng 7, 2004.
(1) Thầy Trần Đức Thắng kể lại lý do đưa đẩy vào nghề dạy học, khi linh mục giám đốc một trường tư thục ở Kiến Hòa gợi lên sứ mạng chính trị trong giáo dục, mở mang kiến thức để người dân không bị lừa mị vì dốt nát.
(2) Tập truyện của Nguyễn Vỹ đăng từng kỳ trên bán nguyệ san Ngày Nay (?)