CHIỀU QUÊ

 

 

truyện ngắn

PHẠM PHI LONG

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

- Tư ơi, Tư. Ủa, sao nhà vắng vẻ vậy kìa? Tư ơi! có ở nhà không vậy hả?

Tiếng của chú ba Bầu ơi ới gọi tìm tôi. Má tôi vội để chiếc áo đang vá dở vào cái rổ đựng kim chỉ rồi từ nhà sau đi ra, tay bà kéo chiếc kính làn trễ xuống một chút, vừa trông thấy chú Ba, má tôi hỏi:

- Chú Ba đó à! Vậy mà tôi tưởng mấy đứa bạn của thằng Tư đến rủ nó đi chơi. Chú kiếm nó có việc gì vậy chú Ba? -

Chú ba Bầu chưa kịp trả lời, má tôi nói tiếp:

- Hồi nãy tôi thấy nó cầm quyển sách dày cộm đi ra chỗ chiếc võng dưới gốc mận.

Má tôi nhìn về hướng cây mận rồi nói bâng quơ: "Chắc bộ ngủ rồi hay sao mà im lìm vậy không biết".

- Dạ, chào chị Hai. Tôi tới rủ nó đi đào trùn sửa soạn mồi giăng câu. Chiều nay tôi định đi hơi sớm vì tôi muốn đi xa xuống ruộng sâu. - đồng sâu, luồng cá nhiều hơn ở ruộng gò mình.

Má tôi ngần ngại, nói:

- Nó còn nhỏ mà đi xa quá vậy có sao không chú Ba? -

- Trời đất! Hơi đâu mà chị lo. Nó tuy nhỏ nhưng dạn dỉ rành rọt lắm. Nó giăng câu đặt trúm còn muốn hay hơn tôi nữa kìa. Hơn nữa, nó với thằng No cùng đi chung một chiếc xuồng thì có gì đâu mà chị sợ.

Má tôi tỏ vẻ yên lặng qua lời xác định của chú Ba:

- Vậy thì chú đi thẳng ra sau kêu nó đi, nó mê đọc truyện Tàu còn hơn mê ăn hàng ăn bánh nữa.

Chú Ba vừa quay lưng đi, má tôi nói tiếp:

- Cũng sắp tựu trường rồi, vậy vài ba ngày chú cho nó đi với chú một lần cũng đủ rồi nghe chú Ba.

Vuàa trông thấy tôi nằm trên chiếc võng, chú Ba hỏi ngay:

- Ðọc truyện gì mà mê tít vậy Tư?.

- Cháu đọc truyện Thủy Hử. Tại bữa trước chú kể truyện một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Bạc nghe khoái quá, nên hôm sau cháu đi mượn sách của bác hai Khải về đọc ngay.

Chú Ba cười dễ dãi để lộ chiếc răng bịt vàng (duyên) của chú:

- Có lo mồi trúm mồi câu gì chưa mà nằm đọc miết vậy? -

Tôi đáp:

- Chú đừng lo. Hồi sáng cháu ra ngoài ruộng, chỉ nội chung quanh cái đìa gần đám đế thôi mà cháu đã bắt được mấy chục con ốc lác, con nào con nấy to gần bằng cườm tay. Cháu đập ra được một đống, vô cầu mươi ống trúm cũng chưa hết. Còn mồi trùn giăng câu thì thằng No đã đào được một hũ bự rồi, nó cho cháu xài chung mà.

Chú Ba nói:

- Chiều nay mình đi hơi sớm một chút, chú biết chỗ này hơi xa nhưng cá lóc cá rô nhiều lắm. Còn lươn thì con nào cũng vàng tươi như nghệ. Với lại bữa nay đã 19, 20 rồi, đêm tối rất mau.

Chú Ba ngừng nói, miệng lâm râm nhẩm tính rồi tiếp:

- Ðêm nay lối mười giờ trăng mới lên.

Nghe chú Ba nói tối nay đi đến cánh đồng xa lạ, hơi ngần ngại nhưng tôi đáp càn:

- Cháu sẵn sàng! -

*****

Tôi và thằng No chống xuồng theo chú Ba Bầu rời khỏi vùng ruộng gò được một hồi khá lâu thì tới khoảng ruộng có mực nước cao hơn, đất lại mềm nên xuồng tôi nhẹ nhàng lướt đi trên đầu những đám mạ non xanh mượt. Thằng No chống lái giỏi lắm, xuồng chú Ba đi rất nhanh mà hai đứa tôi theo dính không rời.

Gió hiu hiu mát, tôi ngồi trên sạp trước mũi xuồng, tay cầm cây giầm nhưng không chống xuống ruộng mà lơ đãng nhìn nắng chiều vàng vọt trải trên cánh đồng và những sợi tơ trời còn vương trên mấy ngọn phi lao phấp phới bay theo gió. Trên cao, vài áng mây trắng còn lang thang phiêu bạt dưới bầu trời xanh thẳm. Một đỗi sau, xuồng qua "cây Gáo một" tôi ngồi nhìn cây cổ thụ đó, mùa nắng cũng như mùa mưa, nó một mình chơ vơ đứng giữa nơi đồng không mông quạnh. Tôi nhớ vào những tháng hai tháng ba, trời khô nắng hạn, hơi nắng oi nồng thì "cây Gáo một" là nơi thân mến của anh Ban, người mục đồng chăn trâu cho ông Sáu Tích, thường để cho đàn trâu nhởn nhơ nhơi cỏ, anh đến cạnh gốc cây Gáo nằm trên những chiếc lá khô, mắt lim dim mơ màng nghe tiếng gió đồng rười rượi thổi qua tai.

Ðồng chiều đẹp quá, tôi chợt thấy lòng lâng lâng niềm yêu thương vô tận với miền quê, với những buổi chiều có nắng hanh vàng rạng rỡ như chiều nay!

Một lát sau, tôi đến cánh đồng lạ, những hàng cây quen thuộc đã khuất xa. Chú Ba cho xuồng chậm lại chờ xuồng tôi đến gần, chú chỉ tay về hướng có đám lau sậy xa xa trước mặt, tiếng của chú lồng lộng trong gió chiều:

- Chỗ có cây xanh xanh và đám lau kia là đến nơi rồi đó, hai đứa giăng câu đặt trúm xong thì trở lại vạt đất trống trải này chờ chú.

Nhìn mặt nước lấp lánh, chú Ba nói tiếp:

- Dãi đất này vừa được dọn xong, chắc vài ngày nữa người ta cấy lúa rồi đó. Ðêm nay mình cắm sào ngủ ở đây.

Thằng No có vẻ lo sợ, nó nói:

- Chú Ba ơi! đây là đâu mà nước thì sâu lại vắng vẻ quá vậy hả chú Ba?

Chú Ba điềm nhiên ẵáp:

- Tại các cháu chưa đến đây lần nào nên ái ngại, chớ đồng ruộng thì đâu đâu cũng vậy, cũng hiền hoà như đồng mình thôi! -

Nói xong, chú Ba chống xuồng lướt đi. Tôi và thằng No chỉ giăng câu đặt trúm quanh quẩn gần nơi chú Ba định đậu xuồng ngủ đêm nay.

Thằng No cắm sào giữ vững chiếc xuồng, tôi một tay vịn be xuồng, một tay mò mẫm dưới mặt nước cố đặt cho xong ống trúm cuối cùng. Tôi sửa cho đuôi ống trúm nằm trên cụm cỏ lác cho lỗ thông hơi nổi trên mặt nước vì nếu không thì khi có lươn chui vào làm ống trúm chìm xuống lươn sẽ chết ngộp. Chợt thằng No hỏi:

- Ê Tư! Mầy còn mấy gắp câu? Chỗ bên kia tốt lắm, gần cái đìa lại có mấy mô cỏ, thế nào cũng có cá trê với cá rô lớn đó mầy.

- Tao còn một gắp.

- Vậy mầy giăng chỗ đó đi.

Thằng No chỉ tay nói tiếp:

- Xong rồi chống xuồng qua gần đám sậy cao kia tao đặt hai ống trúm nữa là xong.

Trong lúc thằng No loay hoay đặt trúm, tôi mải mê nhìn những ổ chim màu xanh cỏ vừa khô, những cái tổ được một loài chim bé nhỏ đan bằng những cọng cỏ lác được tước nhuyễn khéo léo, chắc nịch, mà có lần tôi cùng bạn bè lấy làm giày đi lúc đùa giỡn nhau, chúng đong đưa lủng lẳng trên cành và bầy chim dòng dọc lăng xăng lít xít gọi nhau inh ỏi trên cây ngô đồng.

Trúm đã đặt hết, câu cũng giăng xong. Tôi và thằng No chống xuồng trở lại cắm sào nơi vạt đất trống. Ngồi trên xuồng, tôi đưa tay khoát vùng nước bạc mang nhiều phù sa đục ngầu rửa tay sạch sẽ. Xong, tôi vò thêm mấy cọng rau ngò om cho bán đi mùi tanh của mồi cá mồi lươn.

Trời mây êm ả, gió mơn man, tôi ngồi trên sạp trước mũi xuồng, lặng ngắm sắc nắng vàng yếu ớt của buổi chiều tàn lấp lánh trên mặt ruộng. Xa xa, vầng thái dương đỏ ối đang chìm dần sau rặng cây viền thành một bức tượng xanh thăm thẳm cuối chân trời. Tôi chợt thấy cánh đồng chiều nay sao to lớn và dịu dàng quá khiến lòng tôi lâng lâng sung sướng trong cái tĩnh lặng của buổi chiều quê.

Dưới bóng hoàng hôn, thằng No nằm trên sạp ở lái xuồng, nó kê chiếc nóp cuộn tròn làm gối, ngửa mặt nhìn bầu trời xanh. Tôi ngồi lặng lẽ dõi mắt theo đàn cò trắng giăng hàng bay về tổ, bỗng dưng tôi nhớ đến hai câu thơ của X.D. mà tôi đã lén đọc trong tập thơ chị tôi chép trong quyển vở học trò:

"Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều"

"Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn"

Bóng đêm vừa chìm xuống thì một âm điệu hoà tấu rền vang của các loài côn trùng trổi lên, tôi nghe rất vui tai và tôi bỗng cảm nhận rằng, khi người ta không lưu tâm thì tấu khúc "Ðêm Ðồng Ruộng" này chỉ lướt qua tai như cơn gió thoảng, nhưng đêm nay nó đã gây thành một tác động nào đó trong tâm hồn khiến tôi chợt nghĩ: "Nếu đêm ở ruộng đồng mà thiếu tiếng kêu của những con nhóc nhen, bầu tọt, và tiếng trầm trầm của loài ễnh ương thì còn gì buồn hơn!

Xa xa, thấp thoáng tôi thấy bóng chú Ba Bầu đứng thẳng đưa cây sào lên chống chiếc xuồng lướt về hướng xuồng tôi đang đậu giữa vạt đất trống mênh mông. Ðến nơi, chú Ba vừa cắm sào vừa vui vẻ hỏi:

- Hai đứa đặt trúm giăng câu xong cả rồi à?.

Hai đứa tôi cùng đáp:

- Dạ xong hết rồi chú Ba.

Chú Ba ngồi trên sạp xuồng, mở gói thuốc rê ra, rút một cục thuốc đặt trên tờ giấy huyến rồi chậm rãi quấn thành một điếu to gần bằng ngón tay cái, chú đưa điếu thuốc lên môi, thè lưỡi liếm ướt cạnh tờ giấy xong, chú đưa hai ngón cái cà qua cà lại cho hai mép giấy dính nhau. Chú xoay người che gió, bật quẹt máy đốt thuốc hút.

Màn đêm chìm xuống mau. Sao Hôm đã nhô cao, nó phát ra những tia sáng lóng lánh như một viên kim cương khổng lồ chênh chếch trên bầu trời. Khi điếu thuốc của chú Ba sắp tàn thì màn đêm cũng tối đen như mực, ngồi cách nhau năm bảy thước mà tôi không nhìn thấy chú Ba, chỉ thấy mỗi lần chú hít điếu thuốc thì đóm lửa đỏ lòm loé lên như đóm lửa ma. Thỉnh thoảng, từ trên cao, một ánh sao rơi chảy dài trông như giọt lệ Trời nhỏ xuống trần gian!

Thằng No chợt lên tiếng phá tan sự im lặng:

- Ðêm nay gió hiu hiu mát lại không có muỗi, mình không cần phải chui vào nóp, nếu chú Ba kể chuyện đời xưa nghe thì sướng quá.

- Phải đó chú Ba. Kỳ rồi chú kể chuyện một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Bạc nghe mê quá. Kể nữa đi chú Ba.

Chú ba Bầu cười:

- Khoan đã. Ðể chú quấn thêm điếu thuốc nữa rồi chú sẽ kể chuyện cho hai đứa nghe. Kỳ này chú kể chuyện "Người đẹp Tây Thi" với hai mối tình.

Tôi nói:

- Cháu nghe ai cũng nói Tây Thi đẹp như tiên, vậy chắc hai người yêu của bà ấy phải là những vị anh hùng bạt chúng, phải không chú Ba.

- Phải. Mầy nhỏ mà khôn. Trai tài gái sắc mà! -

Chú tiếp:

- Mối tình đầu là tình trong trắng lúc còn thơ của Tây Thi với người tướng trẻ Phạm Lãi, còn mối tình thứ hai là tình "đến sau", nhưng là tình nghiêng thành mất nước với Ngô Phù Sai. Ông vua si tình này đã đánh mất cả ngai vàng lẫn mạng sống của mình cho tình yêu! -

Kể xong câu chuyện tình trong đêm tối, chú Ba không nghe hai đứa tôi nói gì, chú hỏi:

- Bộ hai đứa ngủ hết rồi à? -

Tôi đáp:

- Dạ không. Cháu không ngủ mà cháu đang nghĩ tội nghiệp cho Ngô Vương, chú nói khi chiến bào của ông đẫm máu và ông đang tuyệt lộ giữa rừng gươm mà mắt ông vẫn hướng về Cô Tô Ðài đang rực lửa, lòng ông đau như cắt, nhưng không đau vì luyến tiếc cung vàng điện ngọc mà đau vì ông sắp mất Tây Thi.

Ngừng một chút, tôi nói với lòng xúc động:

- Và Tây Thi với đôi mắt đẫm lệ hỏi người hầu cận: "Ngô Vương đâu? Ngô Vương đâu rồi!?" Cháu thấy sao chuyện tình của người lớn đã bi thương lại nhiều rắc rối quá vậy, hả chú Ba? Hơn nữa, cái cảnh Phạm Lãi đoạt lại người yêu cũ rồi bỏ vợ bỏ con để cùng Tây Thi lênh đênh ái ân trên mặt nước Ngũ Hồ thì quả đời có tàn nhẫn với linh hồn của Ngô Phù Sai!

Bỗng thằng No ngắt lời tôi:

- Chú Ba kể chuyện đời xưa nghe hay quá. Chú thiệt là tài, chuyện gì chú cũng biết hết. Nhưng mà... chú Ba, chú là người từng đi đây đi đó, chú sống đời phóng khoáng giang hồ, chú từng vui với cảnh lạ hương xa mà sao chú lại trở về với ruộng vườn, giăng câu đặt lờ, chú không buồn sao?.

- Cháu nói nghe cũng phải. Hồi còn nhỏ chú cũng nghĩ như cháu bây giờ, chú cũng thấy đời sống ở thôn quê buồn tẻ nhạt nhẻo quá, nên khi vừa lớn lên thì chú bỏ học để cùng người bạn trốn lên tỉnh thành. Lúc đầu chú làm đủ nghề, kể cả những ngày theo đoàn hát cải lương nay đóng vai người hầu, mai đứng bên cánh gà chờ kéo màn, lênh đênh trôi giạt nhiều nơi. Rồi cũng có lúc gặp vận may chú cũng khá giả, cũng sống đời lên xe xuống ngựa như ai. Nhưng dù đời có đãi ngộ chú, có cho chú những ngày tháng lên cao như diều gặp gió, khiến đôi khi chú tưởng mình là một con người khác! Cái con người xưa đứng bên cánh gà chầu chực kéo màn, ăn quán ngủ đình đã biến mất, và thay bằng một con người có đủ tài trí thuộc tầng lớp cao hơn trong xã hội. Nhưng rồi sau những giây phút rộn ràng nhất, tuởng là hạnh phúc nhất đó là những giây phút chú nhớ quê hương, con người nhà quê trong chú bỗng hiện về đưa chú đi tìm lại cái kho tàng quí báu của tuổi thơ, cho chú ngắm lại vẻ đẹp dịu hiền của hàng cau trước ngõ và màu đỏ dễ thương của những chùm mận hồng đào rực rỡ sau hè ...

Bỗng chú Ba ngừng nói, chú lặng ngắm vầng trăng thượng tuần vừa nhô ra khỏi áng mây. Dưới ánh sáng huyền ảo của vầng trăng khuyết, đôi mắt chú Ba xa xăm, chú nói:

- Nói nhiều sợ hai cháu không hiểu, nhưng thường con người khi còn trẻ thì làm việc gì cũng hăng say mà mục đích thì mù mờ như người đi trong đêm tối, rồi theo thời gian, tuổi đời chồng chất, ý nguyện của mình mới dần dần hiện ra.

Chú Ba chỉ tay về hướng trước mặt, và tiếp:

- Giống như ánh trăng đêm nay, hồi đầu hôm nào ta có trông thấy gì, nhưng bây giờ thì bóng dáng bờ lau kia đã hiện dần ra.

Ngưng một chút, chú Ba đưa điếu thuốc lên rít một hơi dài rồi tiếp:

- Dù có sông hồ lang bạt nơi đâu, chú vẫn nhớ quê nhà, nhớ mùi hương dịu dàng của giàn hoa thiên lý lúc về đêm và mùi thơm nhẹ nhàng của hoa lài thoang thoảng trong những sáng tinh sương. Chú nhớ những dây trầu âu yếm leo quanh thân cau, lá của nó vàng tươi óng ánh dưới nắng mai... Chừng ấy chú mới nhận ra rằng, chú không phải là người của sông hồ, chú không thuộc về cuộc sống rộn ràng xe ngựa hay ánh đèn muôn màu của thị thành, mà chú yêu ngọn đèn dầu mù u hiu hắt nhà ai trong xóm đêm -

Thằng No ngắt lời:

- Vậy mà cháu tưởng cái gì của thị thành cũng đẹp cũng hay, cũng lôi cuốn được mọi người chớ chú?.

- Thành phố có cái đẹp cái hay của nó, nhưng đồng quê cũng có cái đẹp cái hay của đồng quê. Cho nên có người thích cuộc sống ồn ào xuôi ngược thì cũng có người thích cái yên tĩnh của miền quê, tất cả đều tùy ở trạng thái tâm hồn mình thôi. Chẳng hạn như chú đây, chú cho rằng hình ảnh con sáo sậu lông đen mướt, mỏ đỏ, mắt viền vàng, đứng trên lưng trâu mà hót là một trong những bức tranh tuyệt vời của đồng quê.

- Vậy thì chắc hồi đó chú nhớ nhà lắm, phải không chú Ba? -

- Chú nhớ lắm. Ngoài cha mẹ anh em ra, còn thì từng khuôn mặt của bà con láng giềng, mỗi khi có dịp, đều lần lượt hiện về từ trong ký ức của chú.

Ngừng một chút, nét mặt chú Ba bỗng vui vẻ khác thường, chú vừa phà khói thuốc ra vừa cười giòn tan:

- Chú còn nhớ rõ, hồi chú rời làng ra đi thì cô ấy tuổi mới mười lăm mười sáu, tóc thề còn phấp phới trên vai, và đôi môi thì xinh thật là xinh, nó khiến cho chú dù có vui thú ở chân trời gốc biển nào thì lòng chú cũng cứ mãi bâng khuâng nhớ về làng xưa! -

Thằng No lên tiếng:

- Không ngờ chú Ba đa tình quá há! Mà người con gái đó là ai vậy, hả chú Ba? -

Chú ba Bầu cười lớn:

- Là Thiếm Ba của tụi mầy bây giờ chứ ai! .

 

Houston, hè 2001

PHẠM PHI LONG