CHIỀU CUỐI NĂM Ở CHUNG CƯ
Truyện Nguyên Nhung
Hôm nay là ngày ba mươi Tết, hèn gì cái xóm nhỏ này xôn xao hẳn lên. Đứng từ hành lang khu chung cư, phóng cặp mặt lờ đờ về dãy phố thương mại bên kia bãi đất trống, Du vẫn thấy thiên hạ lai rai đi sắm Tết. Kể cũng vui, người ta chưa quên phong tục tập quán cũ, nên vẫn đổ xô về tiệm thực phẩm mua sắm đủ đầy cho ba ngày Xuân.
Cả khu thương mại này lèo tèo chỉ có một tiệm bán thực phẩm, một tiệm ăn bán hầm bà lằng đủ thứ, từ bún bò, bún riêu, bún vịt cho đến bánh mì, cơm tấm rất tiện cho những người độc thân không nồi, không chảo. Một tiệm Video chỉ rặt cho thuê những phim bộ Hồng Kông, ca nhạc, tình cảm xã hội lâm ly bi đát, kế bên là một tiệm uốn tóc cho đàn bà, hớt cả tóc cho đàn ông. Đám dân Việt quây quần thành một cộng đồng ở mấy khu chung cư cũ kĩ, một số ra ngoài đi làm tiếp xúc với người bản xứ, đám trẻ con đi học, còn thì hầu hết dường như không quan tâm lắm đến thế giới của nước Mỹ ngoài kia.
Người đàn ông tên Lãng Du ở trong căn chung cư một phòng ngủ, lạnh lẽo và đơn độc như cái tên của hắn. Ông già hắn sau những ngày đi phiêu bạt giang hồ, trở về quê lấy vợ, đẻ con, đã đặt cái tên Lãng Du cho thằng con trai. Dường như mỗi cái tên có gắn bó với định mệnh của đời người, bởi vậy Du thấy suốt cả đời mình phiêu giạt hết bến bờ này đến bến bờ khác. Lúc còn ở nhà, mẹ hắn đã từng đau khổ vì cái tính thích đi ngao du sơn thủy hệt như ông già hắn.
Nếu bảo Du không vợ không con cũng không đúng. Thật ra, hắn cũng đã một thời yêu đương ra rít, và con vợ hắn chính là con bé hàng xóm nhí nhảnh, hay mặc chiếc áo bà ba màu tím dợt, thích xem cải lương và tân nhạc cải cách trên những sân khấu bình dân , có các anh kép điển trai và những cô đào thương khóc sướt mướt khi hát sáu câu vọng cổ. Trong những đêm trời đầy sao, Du đã có những buổi hẹn hò thơ mộng dưới rặng bần lập lòe đom đóm, ven bờ con rạch nhỏ thoang thoảng mùi hoa dạ lý. Ai ngờ con nhỏ có đủ sức cột chặt đời Du lại, khiến hắn tạm quên những ngày đi giang hồ cho phỉ chí làm trai.
Hắn thương cái khuôn mặt bầu bĩnh, ngây thơ, nước da ngăm ngăm bánh ít, đôi mắt một mí và cái núm đồng tiền xinh xinh nơi khóe miệng mỗi khi cười của con vợ hắn. Vậy mà lúc dắt díu nhau qua đây, chưa được mấy năm mặn nồng thì mồ tổ cha nó, nó đua đòi tự do bình đẳng rồi xách con đi biệt, để hắn ở lại với mối hận tình không bút nào tả xiết.
Nguyên nhân làm cho gia đình hắn tan nát thì cho đến giờ này Du vẫn không hiểu lỗi tại ai? Tại hắn quê mùa bảo thủ, hay tại con vợ hắn đua đòi những cái văn minh của thứ đàn bà chỉ coi trọng sự rực rỡ nhan sắc. Du không được học nhiều, nhưng đã bầm dập với cuộc đời lắm phen, hắn có hẹp hòi gì mà đòi hỏi vợ tuyệt đối. Xứ người cuộc sống khó khăn thì chồng làm vợ làm, hắn có kềm kẹp gì cho cam. Thương vợ thì lúc nào hắn chả thương, nhưng hắn cũng rất khó chịu khi lúc nào cũng phải nâng niu như hoa như trứng. Hắn là con của ba hắn mà, người đàn ông đúng nghĩa là phải " dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về", chỉ tại hai chữ Tự Do được mỗi người hiểu một cách khác nhau, hai chữ bình đẳng cũng có nghĩa là anh cày, em cày cho tới chết, cho nên mới sinh chuyện, khi con vợ hắnï không hiểu hết được ý nghĩa của hai chữ Tự Do, Bình Đẳng.
Con vợ hắn không biết nghe ai, nhất định đòi đi sửa sắc đẹp. Du đã nhiều lần cắt nghĩa với vợ là vợ chồng thương nhau thì đã thương rồi, đẹp hay xấu có ăn thua gì với hắn, hơn nữa dưới mắt hắn, vợ hắn rất có duyên, cái duyên của người đàn bà ví như hương của hoa, nó đi vào lòng người hơn là cái đẹp của những đóa hoa không hương. Nói với vợ như nói với đầu gối, nó nhất định sửa được mới nghe. Hôm đi làm về, ngó thấy đôi mắt vợ sưng húp, bầm tím, cái sống mũi cao nghệu giựt ngược bờ môi trên, hắn điên tiết muốn giộng cho nó mấy cái bạt tai. Hắn không hiểu sao lão bác sĩ thẩm mỹ lại kém thẩm mỹ đến thế, khuôn mặt xinh xắn rất Á Đông, đôi mắt một mí hơi xếch tạo cho vợ hắn vẻ đẹp người đàn bà đất Phù Tang, bỗng dưng dưới bàn tay quỉ thuật của nhà giải phẫu đã biến dạng. Cặp mắt bây giờ to thì to thiệt, nhưng cứ trừng trừng như cặp mắt búp bê, với hai mí trên to ở mức không bình thường. Cái mũi tây cao như cái cột nhà, nằm nghễu nghện trên khuôn mặt tròn tròn rất Á Đông ấy, nó tương phản như bức tranh quê, có sông có nước mà lại có nhà cao tầng và mấy chiếc xe hơi.
Từ đấy tình nghĩa vợ chồng đâm lạt lẽo hẳn, mỗi lần nhìn vợ hắn lại rờn rợn như tất cả những gì thuộc về vợ hắn đều là giả tất. Thiên hạ thì lắm mồm, người khen đẹp, kẻ bảo xấu, hắn bị ám ảnh đến nỗi không một lần nào hôn lên khuôn mặt đã một thời làm hắn si mê, đắm đuối ấy. Đã sửa sắc đẹp thì phải điểm trang, vợ hắn thật là bận rộn với phấn son gương lược, hắn có quan tâm gì đến mấy thứ phụ tùng lỉnh kỉnh của phụ nữ, nhưng tận trong tâm hắn, dường như đã mất đi những gì êm ái nhất.
Thế rồi vợ hắn bỏ nhà ra đi, theo tiếng gọi của tình yêu, hay là vì không chịu nổi sự hững hờ của hắn. Du chả tiếc gì con đàn bà nhẹ dạ, ham vui ấy, nhưng hắn hận là lúc ra đi nó đã bế theo đứa con gái hai tuổi. Con bé đang tuổi tập ăn, tập nói, thỏ thẻ những tiếng gọi cha gọi mẹ, bỗng bị dứt đi khỏi mái ấm gia đình, không hiểu nó có được sung sướng, hay lại chịu sự hất hủi của một thằng cha đàn ông nào đó. Du tím ruột căm gan mỗi lần nghĩ đến vợ, lại đau khổ nghẹn ngào khi nghĩ đến con, âu là cái số kiếp của hắn phải chịu đắng cay như thế.
Đ
ã lâu lắm rồi, Du vẫn cứ sống một cuộc đời như cái tên của hắn. Lúc ở nơi này, khi ở nơi nọ, công việc thì thay đổi luôn luôn. Chán cuộc sống gò bó nơi xưởng máy, hắn ra sông ra biển làm nghề đánh cá, cào tôm. Hắn coi như mình không gặp may trên đường tình ái, còn buồn thì ai chẳng buồn, cái buồn đã biến thành giọt bia, giọt rượu, chui vào những vỏ chai không, trôi ừng ực vào cái lỗ này, rồi lại tồ tồ tuôn ra ở cái lỗ khác. Hắn uống, uống cho say mèm, cho đất trời nghiêng ngả, cho giải phá cơn sầu. Mỗi cơn say của hắn kéo dài mươi ngày, để rồi khi tỉnh rượu, trong hắn lại ngứa ngáy cái nỗi buồn thâm căn cố đế. . .Hắn lan man nghĩ đến những mùa xuân ở quê nhà. Nghèo mà vui, nhất là những năm hắn còn đi học, mùa Xuân của tuổi học trò có lẽ là những mùa xuân trọn vẹn nhất. Ngôi trường cũ đã ngả màu rêu phong, mỗi độ Xuân về, hắn vẫn thơ thẩn đi theo những tà áo dài trong khu chợ hoa ven bến sông, hay ngóng theo một khuôn mặt dễ thương trên chuyến đò đưa ngang phố chợ.
Hắn yêu gió, thứ gió hiu hiu của buổi chiều xuân, trên bến sông hắn ngồi hằng giờ ngắm những tàu lá dừa lao xao trong nắng, cái buồn dịu dàng vây bủa lấy hắn, khiến hắn có cái lãng mạn cho mình là khách lãng du, một chiều xuân dừng bước giang hồ, nhớ mênh mang hình ảnh người thiếu nữ bên song cửa.
Căn phòng hắn thật là trống trải, không bàn, không ghế, đồ đạc giá trị nhất là cái Tivi và một cái VCR đã cũ, thêm một cái radio cassette để hắn nghe nhạc. Mỗi lần đám bạn ghé vào nhậu nhẹt ăn uống, chỉ có một cách là nằm, ngồi la liệt trên tấm thảm cũ. Thỉnh thoảng có thằng vác cái máy karaokê cũ mèm đến, cả bọn lại rống lên ư ử những bản nhạc tình thống thiết. Lúc ấy, hàng xóm cũng phải bịt tai đóng cửa để khỏi nghe những tiếng rên rỉ, cùng những tiếng ồn ào của bọn nhậu khi "rượu vào lời ra" ấy nữa. Họ cũng thông cảm phần nào nỗi buồn của lũ đàn ông như hắn, mà có nói thì hắn cũng chỉ ngật ngưỡng ừ ào cho qua chuyện, chứ hắn có nghe gì đâu.
Hôm nay ngày cuối năm, mấy thằng bạn quí biến đâu mất cả, hắn ủ rủ như con gà mắc gió. Một mình một lon, hắn vẫn phải uống, vì chiều nay năm cùng tháng tận. Tự nhiên hắn nhớ đến xót xa những năm tháng cuộc đời, ông thầy cũ năm xưa với mấy câu thơ cổ:
" Công hầu bạch cốt, hồng phấn khô lâu."
Hắn diễn nôm na bằng hai câu lục bát:
" Phù du ta đánh một vòng,
Công hầu xương trắng, má hồng sọ khô."
Câu thơ cổ như một châm ngôn cho cuộc đời vốn đã nhiều điều không đẹp, mỗi lúc buồn hắn lại ngâm nga và không dấu được vẻ khoái trá. Chưa gì hắn đã tưởng tượng ra cả một cảnh đời bên kia thế giới, đám anh hùng chỉ là những bộ xương trắng, và lũ giai nhân chỉ là mấy cái sọ khô. Từ ngày sang đây, đời đã xô hắn té sấp, té ngửa, vợ hắn bỏ hắn mà đi, bạn bè những thằng đã từng chia xẻ ngọt bùi từng chén rượu cay trong cơn khốn khó, nay thành công trên xứ lạ coi hắn như rơm, như rác. Có đứa còn ái ngại nói được dăm câu thương hại, nhưng hắn cần gì cái thứ tình thương đầu môi chót lưỡi ấy. Hắn lẩm bẩm một mình:
" Rồi chúng mày cũng biết. Ở một chỗ nào đó sau cuộc đời này, khi chúng ta bình đẳng như nhau, nếu Thượng Đế còn có lương tâm, biết quí trọng những tấm lòng chân thực, thì thằng này mới là thằng đi vào thiên đàng trước nhứt."
Hắn lại cười khoái trá, cứ vừa uống vừa cười một mình, miệng lảm nhảm:
" Công hầu bạch cốt, hồng phấn khô lâu."
Hừ, có thế chứ ! Đời đâu phải là mãi mãi. Mai đây khi hai tay buông xuôi, ông lớn ông nhỏ, bà lớn bà bé gì cũng phơi bộ xương trắng với cái đầu lâu khô, nhe hàm răng cải mả như muốn nhát ma thiên hạ. Cả một xã hội bon chen những cái nhà to, những cái xe đẹp, đánh giá nhau bằng quần bằng áo, bằng những cái hột xoàn lấp lánh trên tay trên cổ, để mà lo lắng bộn bề, mà đau lưng mỏi gối. Đời là cái quái gì. Nhắm mắt, mất. Mở mắt, còn. Tất cả chỉ là ảo ảnh.
Từ chiếc radio con con để ở góc phòng, một giọng nam tỉ tê:" Con biết bây giờ mẹ chờ tin con, nhưng nếu con về....." Hắn lại thấy bâng khuâng nhớ mẹ, nụ cười móm mém và đôi mắt nhăn nheo, hấp háy , mỗi khi cười thì như cả mắt và miệng cùng cười, những nếp nhăn trên khuôn mặt già nua cùng giãn ra với nụ cười móm mém ấy. Hắn thương biết bao nhiêu hình ảnh bà mẹ già, mỗi lần mắng yêu hắn thường hay rủa thêm " thằng cha mày".
Đêm vợ chồng hắn đi vượt biên , trời lắc rắc mưa, mẹ hắn đưa hắn xuống tận mé sông có rặng bần lập lòe đom đóm, bà bịn rịn cầm mãi tay con chẳng chịu rời. Trong bóng tối,
bàn tay mẹ chằng chịt những đường gân, ve vuốt mãi bàn tay con chai cứng. Hắn sờ lên mặt mẹ, ươn ướt, không biết nước mắt hay là nước mưa trên gò má nhăn nheo, đã đi vào lòng hắn suốt một đời. Sau này, mỗi lần bắt gặp những bà cụ già móm mém lưu lạc trên xứ người, hắn lại nhớ mẹ đến não lòng. Hắn thật là kì cục, không thích nhìn những cụ già trong lụa là gấm vóc, trang điểm kĩ càng, mà chỉ khi nào bắt gặp những nụ cười móm mém, những tia nhìn ngơ ngác như trẻ con, thì tận trong sâu thẳm, hắn nhìn ra mẹ của hắn.
Năm kia, con em gái gởi sang cho hắn một tấm hình mới nhất của mẹ, cười ngượng nghịu với hàm răng mới, ghép thêm tấm phông đằng sau vàng son, hực hỡ. Hắn xem hình mà phát bực, anh chàng nha sĩ này có con mắt thẩm mỹ cũng không hơn gì lão bác sĩ giải phẫu cho vợ hắn. Ai đời, bà già bảy, tám mươi tuổi, lại gắn ngay vào cái miệng móm một hàm răng đều như hạt bắp của cô gái đang xuân, hắn cứ rờn rợn thế nào ấy. Hắn viết thư về bảo gởi sang cho hắn một tấm hình khác. Hắn dặn con em cứ để mẹ với cái mồm móm mém ấy, cứ để mẹ ngồi trước sân nhà, dưới giàn mướp hương, có cái lu nước mưa ngoài đầu hè, có cây mận lá rụng bời bời những ngày gió nổi.
Buổi chiều xuống tự bao giờ. Hắn cứ uống tì tì, cứ say lử khử, cứ ngủ lơ mơ, hiện tại quá khứ chập chờn trộn lẫn, lúc ở bên này, khi ở bên kia. Đối diện nhà hắn là nhà hai ông bà đã gần tám mươi tuổi, họ qua đây theo diện bảo lãnh, con cháu sống riêng cả, chỉ thỉnh thoảng về thăm. Hai ông bà sống cu ky với nhau, chia xẻ chút tình già trong những ngày cuối của cuộc đời. Bà cụ thương hắn như con, thỉnh thoảng hắn giúp họ đi bác sĩ hay xuống phố mua sắm lặt vặt, còn bà thì hễ có gì ngon cũng để phần cho hắn, thôi thì " bán anh em xa, mua láng diềng gần" vậy. Bà cụ đang đốt nhang cho mâm cơm cúng chiều ba mươi Tết, hắn có ngửi thấy mùi nhang thơm tỏa bay lãng đãng trong cái lạnh của buổi hoàng hôn. Nghĩ cũng tức cười, bà cụ tuy theo những người Truyền giáo đi nhà thờ, nhưng nề nếp nhớ về cội nguồn như ăn sâu vào tận xương tủy. Bà bảo hắn:
" Cuối năm mà nhà không có nén nhang, không có mâm cơm cúng ông bà ông vải, nhà cửa nó cứ lạnh lẽo làm sao ấy."
Bà cụ có mời hắn chiều nay sang ăn bữa cơm cúng ông bà, nhưng giờ này hắn đã mềm môi vì rượu, nói gì đến chuyện ăn. Nghĩ tới đây, Du lại nhớ đến mẹ và những ngày cận Tết, đêm ba mươi và tiếng pháo nổ đì đùng của giờ giao thừa. Mâm hoa quả để ở giữa sân, lập lòe ngọn đèn dầu và nắm hương cháy đỏ, Du mơ hồ như thấy cái giao ước thật thiêng liêng giữa Trời và Đất, cũ và mới, cõi sống và cõi chết, như cùng một phút giây hội ngộ trong cái khoảnh khắc thiêng liêng của đêm trừ tịch.
Trong cái im ắng của buổi hoàng hôn, mùi nhang trầm phảng phất như đưa Du chập chờn trở về quê cũ, mái nhà xưa, hình ảnh bà mẹ già còm cõi ngồi nhai trầu dưới giàn mướp hương. Du mơ thấy mình có đôi cánh, bay về quê hương, qua bao nhiêu sông dài biển rộng, đồi núi chập chùng. Hắn về. Quê hương đây rồi, những mái nhà san sát như bát úp, những vườn cây, những con đường đất ngoằn nghoèo, những sông, những rạch, lấp loáng ánh nắng chiều như những con rắn bạc trườn mình trên ruộng đồng bát ngát. Hắn về. Đi qua con ngõ rì rào tiếng lá, khoảng sân rung rinh bóng nắng, mặt sông lăn tăn sóng gợn, tất cả đều im lặng đến nỗi hắn nghe được cả tiếng cá đớp mồi dưới chân cầu, tiếng gió hiu hiu lách luồn qua khóm trúc. Giàn mướp hương vẫn còn đấy với những bông hoa vàng, có con ong bầu kêu vo vo chuyền từ hoa này sang hoa khác. Mẹ hắn vẫn ngồi đấy, cái miệng móm mém đang nhai trầu mà chừng như nghĩ ngợi gì đâu đâu. Hắn nhẹ nhàng đi đến sau lưng mẹ, vẫn nghịch ngợm như ngày còn bé, đưa hai tay bịt mắt mẹ, hắn hỏi:
" Đố ai?"
Bà già từ tốn gỡ tay hắn ra, bà xiết lấy bàn tay chai cứng của thằng con giang hồ, lãng tử. Bà cười, nụ cười móm mém, đôi mắt hấp háy ánh lên nét nhìn tươi vui, những nếp nhăn như giãn ra trên khuôn mặt già nua:
" Thằng cha mày, đi gì mà đi biệt, mày đi đâu tới giờ mới "dzìa" đó con?"
Du nghe như không có gì xảy ra, thời gian và không gian như ngừng lại, như hắn vẫn đang ở nhà với mẹ , chỉ đi đâu quanh quẩn vài hôm. Hắn ôm lấy mẹ, vuốt cái củ tỏi trên mái tóc mẹ già, mái tóc đã bạc phơ, đã rơi rụng tứ tán mười phương theo cuộc đời chỉ những ngóng chờ và đau khổ. Mẹ già ốm o còm cõi nhưng Du nghe ấm cả lòng mình:
" Con " dzìa" với má luôn nghe má. Ở đâu cũng không bằng quê nhà, phải không má?"
Mẹ hắn cười, đôi mắt nhìn con đằm đẵm xót thương:
" Ưøa, "dzìa" luôn đi con, sao mày cứ đi hoài làm chi cho khổ? Thằng cha mày, ở nhà với má có rau ăn rau, có cháo ăn cháo, chết chóc gì mà tha phương cầu thực hở con."
Hắn nghe như muốn khóc, đời hắn khổ nhiều thứ chứ đâu phải khổ vì miếng ăn. Du muốn kể mẹ nghe hết nhưng lại sợ mẹ buồn, mẹ hắn lúc nào cũng nghĩ hắn như thằng con nít, thèm ăn chén chè đậu, củ khoai luộc.
" Má có gì cho con ăn không? Tết nhứt mà không bánh, không mứt gì hết à?"
Mẹ hắn lại cười, cái mồm móm mém không răng dễ thương hết sức:
" Bây đi hoài có ai đâu mà ăn, má có nồi thịt kho nước dừa với mấy đòn bánh tét, dưa hấu thì chưng trên bàn thờ ông bà đó. Con muốn ăn để má xẻ. Thằng cha mày, đi thì thôi, ‘dzìa" là đòi ăn."
Du cười hề hề, hắn quên là mình đã già, trong tình thương ắp đầy của người mẹ, hắn vẫn chỉ là đứa trẻ con. Hắn ngó ra ngoài sân, gió rì rào, rì rào trên cây mận đỏ, những chùm mận đong đưa trên tàn lá xanh. Mẹ hắn đi đâu rồi? Có một lúc Du chập chờn qua cơn mộng. Gió, lại gió, gió ở đâu mà lạnh thế, ở quê mình đâu có thứ gió ma quỉ thế này. Bỗng hắn mơ mơ nghe tiếng pháo ở đâu vọng lại, không biết là mấy giờ, không biết là ngày sắp bước sang một năm mới, hắn lại thiêm thiếp trong giấc mộng với bà mẹ già ở quê xưa. Hắn nghe tiếng pháo rộn rã từ phía chung cư bên kia vọng lại, Du mơ màng như đang ở quê nhà, hắn hỏi:
" Giao thừa rồi phải không má?"
Trích trong " Viết Giữa Mênh Mông" của Nguyên Nhung
Xuất bản tháng 9, năm 2000.