Ngày Của Mẹ

Hoà thượng Thích Quảng Độ viết về
Mẹ :
Vu lan đến cõi lòng con quạnh quẽ
Bóng người xưa như phảng phất đâu đây
Một chiều thu lạnh dâng bát cơm đầy
Tình nghĩa ấy, mẹ ơi, bao thấm thía
Phương trời này con ngậm ngùi rơi lệ
Đức cù lao muôn một trả chưa xong.
Một nữ sinh VN khóc mẹ :
Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.
Nhà thơ Trần Bửu Hạnh viết:
Mẹ ơi con mất mẹ rồi
Đời con cảm thấy như chồi cây khô.
Nhà thơ Truy Phong, tác giả " Một Thế
Kỷ Mấy Vần Thơ" giải nhất thi ca
Miền Nam 1956, viết về Mẹ :
Một trăm năm nữa, nghìn năm nữa
Môi vẫn còn in vú Mẹ hiền
Miệng vẫn còn thơm mùi sữa Mẹ
Đời đời ảnh Mẹ ngự trong tim.
2. Mẹ tôi mài một chút mực tàu lấy
nước đen đổ một muỗng vào miệng
Hạnh, đứa em trai út 5 tuổi của tôi, 2 giờ
khuya một đêm mây mưa vần vũ, sau khi đã dùng
nước chanh và giựt tóc mai mà không giải được
cơn trúng gió của em. Em tắt thở, người
bầm tím, giữa Lò Tre chân núi hoang vu, giữa mùa đói
giáp hạt 1952.
Chỉ cách đó 20 cây số, trong hóc núi Đồng
cam, cha tôi vẫn còn thức, nghiêng mình trên đồ
bản sửa chữa barage và kênh mương bị bom phá
hoại nhiều chỗ, dẫn nước sông Ba cứu
vựa lúa 4 tỉnh miền Trung. Miệng cha còn ư ử
điệu một bài ca nhi đồng …cho đỡ
nhớ vợ nhớ con.
Xác em cuốn chiếu, mồ chôn Lò tre không có bia, không
còn gì ca,û sau mấây mươi năm trở về tìm
kiếm. Mẹ không còn khóc được, người
mẹ như xác ve, nước mắt mẹ đã khô
cạn từ bao nhiêu đau thương trước
nữa trong chiến tranh lạnh lùng. Tây vẫn chiếm
Núi Hiềm và tàu ngoài khơi vẫn pháo đều đều
quanh núi Chóp Chài của Tuy hoà, Phú yên. Trong tình cảnh đó,
tôi đã lội bộ từ tận cùng núi tây bắc Bình định,
đường dài 150 cây số, vào tận cùng xóm núi thôn
Phong niên Trong của Tuy hòa để đi tìm mẹ và em, đưa
về nơi an toàn.
3. Trên đường đưa mẹ và em trở ra
Kim sơn, tôi qua nhiều xác chết trâu bò và người,
ở bên phía tây núi Chóp chài. Đôi mắt tôi bị nhiễm
hơi độc xác chết, mưng mủ sưng to,
phải nghỉ lại một ngày bên bờ mương
nước ruộng . Cũng có nhà dân mà không dám ở vì nhà
hoang. Ban ngày ba mẹ con có ghé hai nhà nơi rừng tre hóc núi,
nhà nào cũng đào hầm ngay dưới nền nhà, và mùi
hôi thối xông ra từ dưới đó.
Mẹ tôi lội xuống mương, sục tay trong
bùn, tìm ốc bươu; được chừng
mươi con, mẹ kỳ cọ ốc cho sạch bùn,
rồi dùng hòn đá đập dập từng 2 con một
, trải giấy bổi lên mắt tôi và đắp xác
ốc bươu lên đó. Độ 1 giờ lại thay 2
con khác. Tôi nằm trên bờ mương cỏ úa, chịu đau
nhức nhiều giờ.
Nhưng tôi cảm động và tin cậy vì được
mẹ săn sóc, trong một cảnh ngộ ngặt nghèo,
không thuốc men, không bông băng. Mẹ xé vải áo đang
mặc bỏ vào nồi nấu cho sôi với muối,
rồi lấy nó làm lớp độn 2 mắt, lớp làm
băng nịt quanh đầu tôi.
Trời thương mẹ, và mắt tôi bớt
mủ, xọp xuống, giảm đau. Tôi ngồi dậy,
ăn miếng cơm, nửa sống nửa chín, của đứa
em 7 tuổi, ốm nhom, chịu khó giúp mẹ, để
mẹ lo cứu anh.
4. Gian truân hai cuộc chiến dài, mẹ là
người chịu đựng to lớn hơn cha, để
cứu sống và nuôi dưỡng từng đứa con.
Không có mẹ nào giống mẹ nào. Mẫu số chung
của mọi người mẹ là hy sinh vì con, cho tới chết.
Chỉ khác nhau ở cung cách hy sinh. Con mất mẹ như
mất cả một bầu trời.
Ngày giỗ mẹ, hạt cơm hạt ngọc, đồ
ăn chay hay mặn, trà rượu, hương hoa, nhang đèn…,
dù đạo Chúa, đạo lương hay đạo
Phật, con biết mẹ không ăn cũng không
hưởng. Trong cõi vô minh, mẹ chỉ muốn chứng
giám tấm lòng thành kính cuả các con.
Còn người sống, lấy ngày giỗ làm ngày đoàn
tụ con cháu ; nấu đám, dọn lên bàn thờ, cúng bái,
trước là để tỏ lòng tôn khính tổ tiên, sau là
cho họ hàng một bữa ngon no, như hưởng
lộc của ông bà phò hộ, qua người trưởng
tộc chí hiếu.
Chỉ thế thôi, năm nào cũng về với nhau,
ôn lại truyền thống họ hàng.
Ngày của Mẹ, 13 tháng 5 năm 2001