NGƯỜI CHA

DẤU BÀN TAY

 

truyện ngắn

 

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

Danh Kim lấy mấy cọng cỏ tranh bó chặt số đưng vừa cắt xong. Tổng cộng mười hai bó. Anh nhẩm tính, từ khu rừng tràm xuyên ngang đường cầm, lội qua con rạch dẫn vào Lạc Quới để về Ba Chúc, anh đội mỗi lượt hai bó phải mất ngần ấy lượt đi về. Ðã trên mười năm rồi, từ sau ngày vợ và đứa con gái độc nhất của anh bị lính Pôn Pốt sát hại tại làng Ba Chúc, Danh Kim đã sống với tâm trạng cô đơn, dằng dặc: tâm trạng người chồng mất vợ và người cha mất con đột ngột cùng một ngày, một lúc mà không còn lại chút thi thể nào!

Danh Kim người Tri Tôn, cưới Thạch Chanh cùng quê, hai vợ chồng kéo nhau lên miệt Ba Chúc tạo lập cơ ngơi. Vợ chồng anh tìm được vuông đất cất nhà. Ruộng nương không có phải đi làm thuê làm mướn kiếm ăn. Vợ anh sanh được một con gái. Cả hai vợ chồng bàn nhau đặt tên. Anh muốn sau này con có cái ăn cái mặc với người ta nên chọn là "Khá". Vợ bảo "Con gái tên Khá không được”, rồi đề nghị với chồng nên đặt tên "Chia". Ý muốn là trong cuộc sống con mình đều được chia sẻ niềm vui, hạnh phúc chớ không thể chịu khổ đau, bất hạnh được! Danh Kim nghe vợ cắt nghĩa có chiều xuôi tai, có lý, anh đồng ý.

Bé Danh Chia có khuôn mặt bầu bĩnh, mái tóc quăn quăn, nước da ngăm đen màu bánh mật sậm, môi hơi dầy. Càng lớn, cô bé càng gầy guộc vì thiếu ăn. Cả hai vợ chồng Danh Kim và Thạch Chanh đều đi làm mướn kiếm tiền mua gạo hàng ngày. Anh thường lãnh làm những công việc nặng, sáng sớm đi, chiều tối mới về. Anh lại có tật hay uống rượu. Nhiều hôm về tới nhà là chân bước khập khiễng, chệch choạng. Số tiền làm được, anh đã sử dụng hơn nửa để uống rượu. Nhiều lúc bạn bè thúc bách, anh đã "nướng" sạch cho tiệc nhậu! Vợ anh nhận đi làm cỏ rẫy bắp, vén giồng khoai, hay giữ bò cho nhà giàu trong xã, phải dắt con theo. Cả hai mẹ con đội nắng dầm mưa để đổi cái ăn. Cuộc sống gia đình không thể khá lên được bởi Danh Kim quá nghiện rượu. Chị nhiều đêm khóc khuyên nhưng anh không nghe. Bé Danh Chia bảy tuổi, có thể nấu được nồi cơm, quét được nhà, đỡ đần cho mẹ phải lam lũ với khối công việc của người ta bỏ tiền ra thuê mướn. Nhìn từ bên ngoài khó ai xác định được hạnh phúc của gia đình này. Hôm nào không có rượu, Danh Kim về nhà phụ giúp vợ con nhiều chuyện vặt vãnh, chuyện trò vui vẻ, đằm thắm. Chiều mát, anh căng võng trên hai cây me keo rồi kêu Danh Chia lại, ôm con vào lòng vuốt ve, nựng nịu. Vợ anh bưng chiếc rổ may ra ngồi cạnh bên vá lại chiếc quần bị cào rách để ngày mai có thể mặc đi làm. Những lúc đầm ấm như vầy, ai cũng có niềm ao ước bình dị, sáng trong...

- Thương mẹ con "tui", anh đừng bỏ tiền uống rượu nữa. Ðể dành tiền lo cho con ăn học. Tội nghiệp con. Nhà mình nghèo quá mà!

- Ừ. "tao" hổng uống rượu nữa đâu!

- Thiệt hông?

- Thiệt mà. Tao thề...

Thạch Chanh vội buông kim chỉ, bụm miệng chồng, nước mắt long lanh. Danh Kim hôn con. Tự dưng trong lòng anh có một luồng mát lạnh chạy qua khiến anh cảm thấy niềm sung sướng rạt rào. Cơn gió nhẹ từ cánh đồng bạt ngàn thổi vào làm xao động cành me keo, mang theo cái mát dịu của buổi chiều, hoà với tâm trạng yêu thương chan chứa đang trôi ngang lòng mình, Danh Kim trìu mến ngước nhìn vợ và tay vuốt mái tóc thơ trẻ của con:

- Con có muốn đi học không?

- Dạ muốn!

Quay nhìn vợ đang xỏ chỉ vào chuôi kim, Danh Kim mỉm cười:

- Ðể "tao" xin cho con đi học...

- Ừa!

Những giây phút ấm êm đó chỉ xảy ra trong thoáng chốc. Danh Kim lại đi làm mướn, lại say rượu.

- Ba à, sao ba không bỏ rượu?

- Má "mầy" dạy "mầy" phải không?

- Ðâu có! Ba say hoài, nhà mình không có tiền mua gạo. Má làm mướn không đủ ăn. Con không đi học được!

- Khốn nạn! Ði chỗ khác...

Danh Kim hằn học bạt mạnh bàn tay vào mặt con. Năm ngón tay in dấu đỏ tươi trên mặt bé. Nó loạng choạng ôm mặt chạy đi, nức nở. Cảnh tượng này diễn ra nhiều lần như vậy... Có thể nói nước mắt và mồ hôi thường xuyên tắm đẫm trong gia đình của đôi vợ chồng trẻ và nghèo với một đứa con ra đời trong một ngôi sao xấu!

 

Danh Kim để hai bó đưng xuống bờ kinh. Dòng nước chua phèn xanh ngắt, nhìn thấy sâu tới đáy. Con rạch này chảy từ Ngã ba Lò Gạch vào Lạc Quới mút tận rặng cây hun hút đằng xa. Thời đệ nhất cộng hoà của tổng thống Ngô Ðình Diệm, kinh này được đào vét để lập khu dinh điền. Nơi anh đang ngồi, trước kia xe Jeep đã từng chạy qua, bụi bay mù mịt. Bây giờ chỉ còn là con đường đất lởm chởm. Chỗ Ngã ba Lò Gạch, chiếc cầu sắt bắc qua sông bị mìn giật sập, chìm lỉm xuống lòng sông nay không còn vết tích gì. Nền Lò Gạch cũng chỉ là khu đất nhô cao, nhân dân đã chen chúc cất nhà ở đó. Từ chỗ đang ngồi, Danh Kim thấy được những mái đưng, mái tôn lẫn lộn nhau dưới ánh nắng gay gắt trưa hè. Cánh đồng trước mặt ngan ngát một màu xanh. Không phải màu xanh của lúa, mà màu xanh của cỏ hoang, một loại cỏ mà trâu bò cũng không thể ăn được, cho thấy đất đai ở đây khô cằn và khắt nghiệt đối với đời sống người dân. Dù vậy vẫn có lốm đốm mấy khóm khoai “mì kè" là một loại khoai dễ trồng và chịu được đất chua phèn, chỉ cao tới đầu gối và trồng trong ba tháng là có thể nhổ lên lấy củ. Rặng cây chắn ngay tầm mắt là làng Ba Chúc, chạy vắt dài từ hướng Lạc Quới ra Tri Tôn mà người địa phương thường gọi là "Xà Tón". Chỉ có đất dọc theo ven làng nhờ sức lao động của người dân nên đã trở thành "đất thuộc” khá màu mỡ để trồng trọt khoai bắp và cấy lúa hằng năm. Nông sản thu nhập của chủ đất khá, có thể trả công thuê mướn người giúp việc, và nuôi sống người dân nơi đây thật bình thường, giản dị. Vợ chồng Danh Kim đã chấp nhận cuộc sống nơi đây trong điều kiện an phận của một kiếp người, dù lúc nào cũng mơ ước có được hạnh phúc, ấm no, và con mình được chia sẻ mọi điều...

Dòng nước xanh trong. Có khoảng rạch bị rong phủ kín, nhô lên những chùm bông dại màu tim tím. Với tay khoát nước rửa mặt, Danh Kim chợt se thắt trong lòng. Ðã mười năm rồi, cũng trên khúc kinh này, anh chứng kiến cảnh tượng hãi hùng diễn ra trên làng quê Ba Chúc. Từ bên kia bờ kinh, anh đã thấy rất rõ những cụm khói bốc cao, những tàn tro chao lượn cứ lan dần trên rặng cây làng Ba Chúc. Như lửa cháy trong lòng, Danh Kim lo cho vợ con ở nhà chưa biết sự thể ra sao. Hướng núi Phú Cường phía đất tiếp giáp Campuchia, những trái đạn pháo được phóng đi, nổ tung mù mịt dọc theo rặng cây làng anh. Chiến trận diễn ra gần quá. Nông trường Thắng Lợi của khu Ngã ba Lò Gạch thông báo cho dân di tản về hướng Tri Tôn tránh đạn. Danh Kim phải theo đoàn người lội bộ dọc theo kinh Tám Ngàn ra cầu sắt Cây Me. Anh hy vọng sẽ tìm gặp được vợ con ở đó. Nhưng anh hoàn toàn thất vọng. Dân làng Ba Chúc chạy được tới Tri Tôn quá ít. Hầu như nhiều người bị “kẹt” lại khi lính Pôn Pốt tràn tới? Các đơn vị có lịnh chốt giữ, từ chối không cho bất cứ ai liều lĩnh trở vô làng. Mãi mấy ngày sau khi lắng dịu, mọi người quày quã trở về mới chứng kiến cảnh hoang tàn đổ nát của xóm làng...

Danh Kim nghe cay cay nơi mắt. Anh khẽ đưa tay kéo bó đưng để chuẩn bị lội qua rạch. Màu đỏ sậm của thân đưng khiến anh mường tượng màu máu. Máu đã loang đổ trên vùng quê Ba Chúc cách đây quá mười năm. Ảo giác cứ quay quắt, ác nghiệt đeo đuổi anh mỗi khi nhớ lại hình ảnh quê làng. Nó như tanh tưởi, như nồng nặc từ trong khứu giác. Làm sao anh quên được cảnh tượng hãi hùng xảy ra trong khu chùa Phi Lai... Buổi đó, về đến nền nhà cũ chỉ còn một đống tro than. Cháy sạch cả rồi. Anh tìm Thạch Chanh, tìm Danh Chia. Cả hai người thân yêu không còn tăm dạng. Anh như kẻ mất hồn, chạy lui tới như con thoi. Người Khơ-me như anh bản chất rất “sợ máu”, vậy mà chỗ nào có xác người chết là anh đến nhìn mặt. Những thây người mục rữa, hôi thúi xông lên. Những nấm mồ tập thể được khai quật, anh chen vào tìm kiếm. Cửa chùa Phi Lai mở, máu sậm đen, lớp trên khô đặc, nhưng lớp dưới sền sệt trào ra, nhão nhoẹt một lớp, ngợp ngụa, tanh nồng khó thở bởi mùi tử khí. Chúng đã tàn sát không biết bao nhiêu người trong ngôi chùa này. Có thể chúng đã vùi xác vợ con anh ở một hố nào đó? Có thể thân xác vợ con anh mục rữa trong vũng máu tanh tưởi kia? Anh nhớ như in lời kể của một nạn nhân còn sống sót: Chúng đưa nòng súng đen ngòm, bóp cò, lia vào chỗ có người. Chúng xô những người bắt được từ đâu dẫn đến, vào chùa, hạ sát. Máu ngập cả nền đỏ sẫm, tanh tưởi, lợm giọng. Người già, phụ nữ, trẻ em. Tất cả vào đây đều nằm trong tầm súng, đều hứng lấy những viên đạn vô tri nhưng ác độc bởi hành động hung bạo của bọn giết người không còn chút nhân tính!...

 

 

Ðội bó đưng trên đầu, Danh Kim lội qua kinh. Nước trong. Mặt nước hâm hấp dưới sức nóng mặt trời, nhưng tận sâu bên dưới mát lạnh. Bước lên bờ, Danh Kim quay nhìn. Về rong sau chân anh lật lên. Con rắn bông súng đen nhánh chui xuống. Anh nhớ rạch này nhiều rắn bông súng, chỉ cần túm một về rong quăng lên bờ là anh có thể bắt được một hai con rắn bông súng. Thịt rắn là "món nhậu đặc sản” hấp dẫn lắm. Rắn bầm xào lá cách. Rắn hầm đu đủ non. Rắn xào lăn với bún nấm củ hành... Tất cả các món ăn được chế biến từ thịt rắn đã lôi cuốn những người uống rượu như một chất men khó thể dứt rời. Vậy mà từ sau ngày vợ con không còn nữa, anh đã bỏ thói quen uống rượu, làm lụng cần mẫn hơn, tiện tặn hơn. Danh Kim trở nên ít nói, lầm lì khó hiểu, nhất là từ khi anh nghe một nhân vật địa phương giải thích cảnh tượng ghi nhận bên hành lang ngôi chùa Phi Lai: "Bàn tay bám víu vào chân tường in rõ màu máu của một cháu bé! Ban đầu khi phát hiện ra, người ta định dội nước rửa, nhưng có ý kiến nên giữ nguyên làm chứng tích tội ác!". Kể rằng, có lẽ cha mẹ cháu đã bị giết, cháu cũng bị thương đến lúc hoảng loạn, bò lết trên vũng máu loang ngập. Cháu đã khóc kêu thảm thiết để tìm sự sống. Cháu bò trên máu. Tay chân, thân mình dính đầy máu. Cháu mòn sức, đưa bàn tay thơ dại bấu víu vào chân tường rồi chết gục ở đó... Danh Kim bước lại gần dấu bàn tay năm ngón để cố tìm trong vết tích đó sự thân quen, nhưng người ta không cho anh chạm tay vào.

 

 

Nắng đã lên cao. Cái nắng như thiêu đốt đã dội xuống cánh đồng. Làng Ba Chúc trước mắt có những tia sáng lập loè, nhảy múa. Còn gần ba cây số nữa mới tới rặng cây. Cơn khát đắng cổ khi mồ hôi tươm ra lấm tấm trên cơ thể. Có lẽ hơi nóng hắt ra từ những hốc đá của dãy núi Dài làm cho cánh đồng nung lên hầm hập. Băng qua đám mì kè lá xanh non phơn phớt chỉ nhô lên tới đầu gối, tự nhiên Danh Kim se lòng. Anh nhớ con, nhớ câu nói "sao ba không bỏ rượu?". Anh nhớ đến dấu năm ngón tay xương xẩu của anh in lên khuôn mặt non trẻ của con, màu ửng như màu máu! Anh đã quên lời hứa với vợ "Tao hổng uống rượu nữa đâu!”. “Tao thề...”. Bây giờ anh cứ bị ám ảnh bởi những sự việc thân quen, cay đắng, tủi nhục. Anh lại thường xuyên nhớ đến bàn tay in dấu máu ở chân tường chùa Phi Lai, cứ nghĩ đó là của bé Danh Chia - con anh!

Xuyên qua hàng me keo, Danh Kim bước nhanh hơn. Tấm bia ghi tội ác của lính Pôn Pốt đã hiện ra trước mắt. Ðột nhiên Danh Kim quăng hai bó đưng cạnh chân bia rồi chạy nhanh lại chùa. Nắng gay gắt xuyên qua những cành me keo mang cái nóng hầm hập, mồ hôi vẫn lấm tấm trên trán, trên lưng, Danh Kim sựng lại bên thềm chùa. Ðứng nhìn dấu bàn tay in lên chân tường bằng máu đã sậm đen và loang lổ bởi gió bụi thời gian, bỗng anh bưng mặt khóc nức nở, khóc như đứa trẻ bị đòn roi.

 

Tháng 9-1988

15 tháng 10-1991

15 tháng 10-1998

 

LÊ CẦN THƠ

(Trong tập TRÔI NGANG PHẬN MÌNH, chưa in)