ÔNG
GÌA NAM
BỘ
Truyện Nguyên Nhung
Người
ta gọi ông là " Ông Già Nam Bộ", vì giọng
nói, tiếng cười hịch hà, hịch hạc ấy
chắc chỉ người miền Tây Nam bộ mới
có. Nó khác cung cách nghiêm chỉnh, kiểu cách của một
ông già đất Thần Kinh, ảnh hưởng nền
phong kiến các bậc "Phụ Mẫu Chi Dân". Nó
cũng không giống nét " tiên phong đạo cốt
" của một ông già miền Bắc, chút
cao ngạo đất Thăng Long băm sáu phố
phường.
Quê
ông lại ở sát nách Sài Gòn, có xa xôi gì cho cam. Hồi
xưa, nếu đi bằng tàu đò thì mất đến
một ngày đàng, nhưng bây giờ văn minh, xe
hơi đánh vèo một cái đã thấy căn nhà xưa,
gần cây cầu An Hữu, trên dòng sông An Hữu
, một nhánh của sông Tiền, huyện Cái Bè, tỉnh
Mỹ Tho...
Đất
nước Việt Nam là quê hương của tất cả
người dân Việt Nam, nhưng đặc biệt dù
là một khoẻo đất nho nhỏ, chỗ người ta cất tiếng khóc chào đời,
chỗ đó mới thực sự làm người ta nhớ
hoài không bao giờ quên được.
Ông
gìa Nam Bộ rời mảnh
đất "chôn nhau cắt rún"
ấy khi ông vưà trổ mã thành một chàng trai
tuấn tú nước Việt,
con nhà khá giả, có đủ điều kiện
để đi xa học hành. Trước hết là
đi xa tới đất Mỹ ( Mỹ Tho đó mà), sau
dần dần ông mới đi học xa, tuốt tận
miền sông Hương núi Ngự. Đi đâu thì
đi, một năm đôi lần ông vẫn trở về
căn nhà xưa, với dòng sông xưa, nghe tiếng sóng
vỗ vào mạn bờ cây cầu An Hữu, nghe
tiếng lá reo trong
khu vườn đầy trái ngọt cây lành. Rồi khi
lập gia đình, anh em
tứ tán mỗi người một nơi, bổn phận
làm con bắt ông lại trở về với căn nhà xưa,
gắn bó với ruộng vườn, với bà mẹ
già trong căn nhà là nơi
hứng chịu nhiều dấu vết tàn phá của chiến
tranh. Bây giờ lúc cuối đời, đã hơn
mười năm trên đất khách, xa rồi những
ngày xưa thân ái, xa rồi con đường Sài Gòn-Lục
tỉnh, câu hò nghe vẫn còn vang vọng: " Đèn
Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ, đèn Mỹ Tho ngọn
tỏ ngọn lu...", không dễ gì nhớ mà tới
được. Nay tuổi già gửi thân nơi đất
khách, hình như những
ngày còn lại, ông gìa
Nam Bộ thường loay hoay trở về chốn
cũ, mỗi khi bắt gặp một hình ảnh, những
âm thanh gần gũi, vẫn
làm ông liên tưởng đến trăm ngàn kỷ niệm
thời dĩ vãng.
* *
*
Như
tối qua trời mưa, tiếng mư a rơi ào ào,
đập vào khung cửa kính, tiếng gió cuốn vào
nhau quần quật trên mái nhà, ông nhớ gì đâu những
đêm mưa ở quê nhà năm xưa. Thuở ông mới
biết mộng mơ, những đêm mưa như vầy
nó thoang thoảng một chút buồn, chút nhớ, chút heo
may khi cơn gió thổi qua thềm đem theo những giọt
mưa nhỏ. Mỗi đêm trời mưa thuở ấy
có làm ông thao thức nhưng rồi lại chìm đắm
vào một giấc mơ
tuyệt vời ấm áp. Bây giờ trời cũng
mưa, ở xứ này hình như mưa quanh năm, ông lại
nghe trong mưa chút gió lạnh hắt hiu cuả tuổi
đã về chiều. Nhất là tiếng rích rắc của
từng giọt nước chảy từ máng xối
ngoài hàng hiên, nó cứ nhỏ từng giọt , tong tong
chảy xuống giữa đêm khuya
nghe não cả lòng. Cơn mưa đêm đầu đời
với cơn mưa đêm cuối đời nghe đã
có nhiều thay đổi , trong trái tim gìa nua ấy chừng
như đã hồi sinh vì tiếng rích rắc kia nghe y hệt
tiếng đập của con tim trong lồng ngực.
Đều đặn. tích tắc, rích rắc, ông mừng
là con tim mình không có những bất thường khi nghe
cơn mưa đổ lúc nưả đêm về sáng,
dù rằng nó giống tiếng mưa rơi bên hiên ngoài
nơi căn nhà xưa hồi ấy lắm.
Sáng hôm
sau khi ra vườn lúc nắng lên, ông
nhìn thấy những giọt mưa xuân còn đọng
lại trên mỗi nụ hoa chưa nở. Mỗi một
nụ hoa đào chưa nở, rưng rưng một giọt
nước mưa, y hệt như một giọt nước
mắt. Ông gìa có cái
nhìn khác người lắm, khi ông cho rằng cây cỏ
cũng có hồn như con người, và cái hồn của
cây cỏ lại chính là do cái Tâm của người
chuyền sang, bởi thế những cây cỏ được
gần gũi với con người, được
chăm sóc bởi bàn tay người đều
tươi thắm, xanh tốt. Còn về việc ví von giọt
mưa lủng lẳng treo dưới nụ hoa đào,
sao nó tựa câu thơ "khấp như
thiếu nữ vu quy nhật", hoặc thi vị hơn
đó là những giọt nước mắt của tình
yêu. Ai bảo người ta chỉ khóc vì đau khổ,
những giọt nước mắt hạnh phúc cũng
đẹp tựa giọt mưa trên nụ hoa kia, y như
cô thiếu nữ khi được yêu, cũng cảm
động mà rơi những giọt lệ sung sướng...
Sau
cơn mưa đêm, buổi sáng hôm sau trời
tạnh ráo, nắng
đã tràn ngập trong khu vườn đầy ấm
áp. Ông thích nhất tiếng reo cuả một loại
cây mọc trong vườn, lá có dạng như lá Bồ
Đề trong sân chùa ở quê ta. Đó là ông tưởng
tượng thế thôi, bởi dạng cây đã giống
lắm mà lá cũng không khác bao nhiêu. Cây thấp và xum
xuê đủ che cho khoảng sân sau luôn có bóng mát, hễ
mỗi lần có gió thổi, từ chỗ ấy lại
reo lên tiếng thì thào to nhỏ, như cây đang nói
chuyện cùng người. Một chiếc băng gỗ
đặt dưới gốc cây, ngồi cả ngày vào
muà Xuân cũng không chán, tha hồ mà nghe lá reo, tha hồ
để hồn lại chu du về những nơi chốn
cũ.
Nhìn
những luống cải xanh non được bàgieo hột
hôm đầu xuân, nay lớn phổng phao lá biêng
bíếc thế kia, ông lại thèm bưã bánh xèo. Món
bánh xèo của quê ông mới đúng điệu là "
cây nhà lá vườn", thứ bột để đổ
bánh cũng từ thứ
lúa cấy trên ruộng nhà, con tép bạc còn tươi
xanh nhảy soi sói, cũng vưà được xúc lên từ
cái lọp tre dưới cái mương sau nhà còn mặn
mòi phù sa, cây cải,
cây rau thơm thì cũng do bàn tay trồng trọt của
gia đình vun tưới. Bên bếp lưả hồng ,
cứ sà xuống đất mà
chờ từng cái bánh nóng hổi vàng óng được
lấy ra từ chiếc chảo nóng , đặt lên trên
chiếc mâm có lót tấm
lá chuối xanh, rồi cuộn tròn trong lá cải xanh còn
non, hơi nhân nhẩn cay. Rau
đã mát, bánh nóng hổi thơm lừng, chấm nước
mắm chua ngọt có dầm thêm ít đồ chua,
cứ vậy mà ăn thì có lẽ trên
đời này vua chúa cũng không tìm ra cái thú
ăn uống kết hợp thực phẩm và nơi chốn
như vậy. Chỉ nghĩ thôi
ông đã chảy nước miếng, ông lọ mọ
đến bên bà đang lui cui hái những cọng
ngò và rau thơm mọc tràn lan trên đất, đề
nghị bà làm cho ông bữa bánh xèo với những thứ
rau trong vườn.
Kể
ra cũng gần đủ những thứ rau để
ăn bữa bánh xèo cho đúng điệu miền Tây
Nam Bộ, chỉ thiếu ít lá "lụa" chua chua,
dôn dốt là ngon " tuyệt cú mèo". Tại sao gọi
đó là lá " lụa" thì ông không biết, nhưng
cứ nhìn chiếc lá thì ai cũng phải cho rằng nó
đẹp như một miếng lụa ưng ửng màu
bích ngọc, văn chương hơn thì nó ngon như màu
da cuả thiếu nữ dậy
thì. Ui cha! Sở dĩ ông già Nam Bộ có cái đầu
lai láng thi văn, cũng do ảnh hưởng cuả bà
vợ. Bàø lại là dân miền Bắc, xuất xứ từ
đất Dân ca Quan Họ, từ thuở bé đã xuất
khẩu thành thơ, mối tình ấy vào thập niên 40,
lúc ông còn trẻ, kể là khá hy hữu để viết
thành một chuyện tình hay nhất thế giới.
* *
*
Ông
già Nam Bộ dạo này ít ngủ hơn ngày xưa, thuở
mà hễ đặt lưng xuống là ông ngáy o o cho tới
sáng. Ngủ cũng là một trong " tứ khoái" của
con người, nhưng ở một người hay học
hỏi về Đạo như ông thì ngủ cũng thuộc
về chân lý cuả Đạo Tâm mà con người
đạt được.Vì rằng hễ lòng tịnh
không lo lắng, buồn phiền, giấc ngủ sẽ
đến rất là " an nhiên tự tại", cho
nên vì lẽ đó mà trẻ con không trằn trọc khi
ngủ như người lớn.
Bây
giờ già rồi mà ngủ nhiều thì các ông Thầy
Lang lại cho rằng nó có gì bất thường với
cơ thể một người lớn tuổi. Bởi
thế, cái trằn trọc cuả ông già Nam Bộ là một
điều rất tự nhiên, khi con người về
già hay bơi ngược dòng sông trở về với dĩ
vãng.
Chuyện
tình cờ vào một đêm ông hơi khó ngủ, hay là
đã ngủ một giấc rồi giựt mình thức
giấc và cứ chập chờn, thao thức mãi không ngủ
được. Khi ấy chắc phải hai giờ sáng,
vì trời còn mờ mờ qua tấm màn cửa màu xám
nhạt, bụi mía trong vườn vẫn xào xạc và
có thể trên trời, những vì sao đang mỉm
cười với nhau. Lúc ấy đưa về những
hồi còi từ hướng xa, đúng là tiếng còi
xe lưả từ sân ga vọng đến. Bình thường
vì ngủ ngon, ông ít khi nào nghe được tiếng còi
tàu, nhưng đêm đó
có lẽ theo hướng gió, đêm yên lặng, tiếng
còi tàu từ xa cứ rúc lên tu tu từng hồi
làm ông chới với. Thấy bà bên chiếc giường
con kế bên cũng đang trằn trọc, ông hỏi vợ
có nghe tiếng còi tàu. Nửa đêm thức giấc hai
vợ chồng già hỏi nhau tiếng còi tàu, nếu
không có những kỷ niệm xưa, chắc là con cháu
sẽ cười tới . . . bể bụng.
Nhưng
thực vậy. Tiếng còi tàu đêm khuya theo hướng
gió vọng về , thoảng qua tai
ông già Nam Bộ, lại chính là một kỷ niệm
đẹp nhất cuả một mối tình Nam Bắc.
Trên sân ga ngày ấy lần đầu tiên ông gặp
bà, kết quả đã đem lại cho ông bà đến
chín người con, tất
cả đều đã trưởng thành và rất là hiếu
nghĩa.
Mối
tình cuả ông già Nam Bộ, cho tới giờ này ở
tuổi gần đất xa trời, hễ các con xúm lại
để trêu ghẹo thì ông vẫn đỏ bừng mặt lên, vẫn thuật lại với một
nỗi vui ngất ngây hay đáo để. Từ ngày lấy
bà, ông học được nhiều từ ngữ rất
ngộ, như " tuyệt cú mèo", " hay đáo
để". . . và mỗi lần nói chuyện, ông cứ
vô tình nói mãi rồi trở thành thói quen . Ông bà ta thường
nói: " Yêu ai yêu cả đường đi lối về",
nói như vậy thì có nghĩa là tấm tình cuả ông
già Nam Bộ đối với vợ, nó lênh láng như
nước phù sa sông Tiền. Lấy vợ Bắc nhưng
chính ông lại chưa ra Bắc bao giờ, chỉ loanh
quanh ở miền Nam đất Sài Gòn, rồi ra
tới Huế ăn học là hết, nhất là ở thập
niên 40, lấy một cô vợ miền Bắc quả là
" hết ý".
Khi
ông đi học ở
Sài Gòn, sống xa nhà, ở trọ chung
nhà với một anh miền Bắc. Có sống chung
ông mới cảm phục nếp sống ngăn nắp,
căn cơ đâu vào đấy của bạn, tình cảm
thì rất mực thuỷ chung, nhứt là tình gia đình
của bạn sao nó đằm thắm quá. Còn vì một
lẽ ông thường được đọc ké những
lá thư cuả người em gái bạn gửi vào cho
ông anh trai, những lá thư kể chuyện gia đình
đầy tâm tình khiến lòng ông thương cảm.
Ông tìm hiểu gia cảnh
của bạn và rất lấy làm ái ngại. Ông bà cụ
mất sớm, cô em gái mồ côi chưa đầy
mười sáu tuổi đang theo học ở Hà Nội,
giờ này bơ vơ không nơi nương tựa, mấy chị em
được một bà vú già chăm sóc. Chỉ nghe bạn
kể ông đã muốn rơi nước mắt, mặc
dù chưa được biết cô em của bạn bao
giờ, nhưng khi đọc những lá thư của cô
ấy viết vào Nam cho ông anh, lời lẽ đằm
thắm, dễ thương đã khiến ông "thương
thầm trong bụng".
Mãi
tới khi bạn ông quyết định đón mấy
đứa em côi cút vào Nam thì ông mừng lắm, bởi
thế hôm gặp cô gái Bắc Ninh lần đầu tiên
đến Sài Gòn, dáng dấp nhỏ nhắn trong chiếc
áo dài tha thuớt, mỉm cười chào ông là
ông muốn chết đứng vì xúc động. Dân
Nam Kỳ vốn muốn gì thì nói ngay, ít khi để bụng,
vậy mà đứng trước cô " Bắc Kỳ
nho nhỏ" , ông già Nam Bộ líu cả lưỡi, không
nói được nên lời. Thời trai trẻ ông già
Nam Bộ quả rất lãng mạn nhưng vẫn rất
nhút nhát, vì ông chỉ "yêu để bụng"
đến mấy năm mới
dám ngỏ thật nỗi lòng. May là cô gái Bắc Ninh hồi
ấy không đáo để như những cô gái làng
Lim, cho nên dần dần cũng cảm được tấm
tình của ông mà kết duyên chồng vợ.
Ở
thập niên 40, những mối tình Nam Bắc hiếm thấy
, nhất là trong những gia đình đặc sệt chất
Nam Bộ, dễ dầu gì một cô gái miền Bắc
có thể chung sống hoà bình. Lúc ấy cha ông đã qua
đời, khi ông quyết định về thưa chuyện
với mẹ, ông cũng đã chuẩn bị tinh thần
để đối phó . Nhưng lạ thật, sau khi
nghe ông trình bày, chính mẹ ông lại rất hài lòng cho
ông kết duyên với một cô gái Bắc. Nguyên nhân
vì hồi cha mẹ ông còn trẻ, có ra Bắc ăn học,
đã thấm nhuần được văn minh Hà Thành
đất ngàn năm văn vật, thấy được
cái lễ nghi, nền nếp, văn minh đất Bắc
trong các buổi Lễ Hội, những ngày Giỗ Tết
hay cúng quảy trong gia đình, nơi đình đám hội
hè làng xã, đã làm ông bà cảm phục, bởi vậy
mà cũng sinh lòng yêu mến cô gái Bắc mồ côi cha mẹ
mà cũng rất nết na kia.
Tiếng
còi tàu lúc nửa đêm về sáng bỗng gợi lại
trong ông chuyến xe lửa đầu tiên ông bà gặp
nhau. Hôm ấy ông đi theo bạn
ra sân ga đón mấy người em từ Bắc vào, nghe tiếng còi tàu rúc lên từng hồi khi
nó chạy vào sân ga, lòng ông cũng náo nức khác gì bạn.
Khi tàu ngừng, hành khách lũ lượt xuống sân
ga, ông thấy bạn hối hả chen lấn để
đón mấy người em ,
bụng ông vừa chộn rộn vừa hồi hộp
vô tả. Bản chất hiền hoà và hay ngại ngùng,
ông chỉ đứng im ở một góc sân len lén nhìn cảnh
bạn đang tíu tít bên người em gái. Ông
đã yêu người con gái Bắc Ninh ấy từ lâu
rồi, nhưng phải tới hôm đó trên sân ga, ông mới
xác định rằng ông đã không lầm khi chọn
cho mình một đối tượng để yêu. Mãi tới
bây giờ ông vẫn nhớ dáng ngồi đu đưa
của bà ngày xưa, thòng hai chân xuống phiá sau chiếc
xe thổ mộ, đang tíu tít trò chuyện với người
anh, hình dáng mảnh mai
và khuôn mặt dịu dàng, khả ái cuả cô gái miền
Bắc đã đi vào đời ông từ lúc ấy.
Sau
này, trong một buổi họp mặt gia đình, người
con rể cũng là một thi sĩ, đã làm thay cho ông
" tía" vợ mấy câu thơ để dành cho bà
má vợ, đã diễn tả được gần hết
cảm xúc của ông hồi mới biết yêu:
"
Bà có nhớ tuổi thanh xuân 60 năm trước
Đi
bên nhau bao mộng ước thơ ngây
Mắt
thầm trao, tay chạm khẽ bàn tay
Mà
hồn lạc chín tầng mây xanh ngắt..."
(
Thơ Huy Bùi)
* *
*
Khu
vườn của ông bây giờ khi bước sang muà
thu đầu tháng tám AâmLịch, ông già Nam Bộ giỏng
tai nghe tiếng lá khô xào xạc ngoài vườn, ông lại
nhớ tới căn nhà xưa nơi ông mở mắt
chào đời, đó chính là căn nhà gần cây cầu
An Hữu, trên dòng sông An Hữu , quận Cái Bè, tỉnh
Mỹ Tho. Câu nói này ông nói hoài nói huỷ, nói mãi mà
không chán với bất cứ ai khi hỏi về nơi
"chôn nhau cắt rún" của ông. Là
" anh hai" trong một gia đình đông anh em, tất
cả đều được cha mẹ cho ra Mỹ Tho
để ăn học, nhưng lúc ấy thời Pháp
đô hộ, người Việt Nam nào có chút liêm sỉ,
đều nghĩ đến chuyện theo kháng chiến để
đánh đuổi quân xâm lăng....
Đâu
phải cứ đi kháng chiến chống Pháp
mới gọi là có lòng yêu nước. Vào thời
buổi ấy, tuy được hấp thụ Tây
học nhưng ông không phải là thứ
" mất gốc" như bao nhiêu người
đã từ bỏ quốc tịch mình để làm
công dân nước Pháp tuốt bên trời Tây. Ông cũng
rất căm phẫn khi trong bài học lịch sử
ở nhà Trường, ông được dạy tri
ơn chính phủ Bảo Hộ, tri ơn ông Tây bà Đầm
mà gọi quân triều
đình An Nam là giặc. Ông bản chất hiền lành,
không tham vọng chính trị, nhưng nghĩ tới nỗi
nước mất nhà suy vong, ông vẫn thấy bứt rứt
trong lòng. Hiềm vì nỗi ông là con trai lớn, nhà cửa
ruộng vườn một tay quán xuyến để giúp
đỡ mẹ gìa và nuôi các em ăn học, bận bịu
thê nhi, thành ra khi hai đứa em của ông bỏ học
đi theo tiếng gọi núi sông, trong gia đình vẫn
không thấy ai phản đối.
Hai
người em đi theo kháng chiến không về nhà, mãi
cho tới tháng bảy năm 54, nghe đâu họ đã
theo lý tưởng cuả họ, bỏ gia đình đi
tập kết ra Bắc. Khi ấy họ còn trẻ, lòng
yêu nước sôi sục trong lòng, tình hình tranh tối
tranh sáng lại không rõ ràng, họ ra đi với viễn
ảnh chỉ hai năm lại quay về với gia đình,
làng xóm cũ. Ai ngờ biền
biệt tới hai mươi năm, trong tiếng bom rền,
đạn bay, người chết
vẫn tiếp tục đổ xuống trên quê hương
suốt từ Nam chí Bắc. . . .
Đến
năm 75 thì họ dẫn nhau về, coi như kết thúc
một cuộc tương tàn " máu đổ thịt
rơi". Ban đầu thì hồ hởi lắm, hoà
bình rồi anh em một nhà xum họp, quá khứ bỏ
qua, dĩ vãng dẹp lại, lúc anh em ngồi khề khà
với nhau trong ngôi nhà hương hoả của gia đình,
em ông đã vui vẻ kể lại những chuyện
trên đất Bắc
cho mọi người nghe. Đó là lúc hai năm sau
năm 54, Pháp đã cút về nước, chỉ còn
dân mình với nhau thì thôi nhà ai nấy ở, cơm ai nấy
ăn, cớ sao còn đấu tranh làm gì cho mệt xác.
Lúc ấy đám Nam Bộ tập kết bỏ miền
Nam ra Bắc bắt đầu nhớ nhà quá đỗi,
nhớ đồng ruộng thẳng cánh cò bay, nhớ
lúc ăn thoả thuê con tôm con cá, nhớ sông nước
miền Nam hiền hoà, cây trái ngọt ngào, vườn
tược sung túc phủ phê. Khi kể chuyện cho cả
nhà nghe, ông em đã bắt chước giọng ngoài Bắc
mà kêu lên rằng:"
Ối giời ơi! Sao nó nhớ thế không biết".
Hỏi tới ngày về thì không ai trả lời, thiếu
điều muốn làm loạn. Dân Nam Bộ vốn
ăn ngon, nay ra Bắc cái gì cũng bị " thắt
lưng buộc bụng", chịu sao thấu. Ở chợ
hễ con cá nào to nhất, ngon nhất là dân Nam Bộ
mua, phở "chui" có
"người lái" dân Nam Bộ ăn,
họ chùm nhum lại nhậu nhẹt thoải mái
cho vơi cái hận " xa quê, nhớ mẹ hiền".
Nhà nước cũng biết thế, không dám kềm kẹp
mà thành ra " thất sách", bởi vậy mỗi người
lại được "xây dựng" cho một cô vợ
miền Bắc để giữ chân...
Nhờ
có học thức, em ông phục vụ đơn vị
quân y, suốt những năm ở ngoài Bắc, chẳng
mấy khi được đi đâu, tối tăm mặt
mũi trong chiếc hầm bịnh xá, cưa chân, cắt
tay, mổ bụng cho những người thương
binh, ở những thập niên 70 khi cuộc chiến
đã vô cùng dữ dội. Đời khổ cực quá,
đang ăn học, chẳng gì cũng sống trong thanh
bình với cuộc đời no đủ. Có đôi khi
nghĩ tới anh em, gia đình ở miền Nam, chỉ
cách nhau có dòng sông Bến Hải mà không về
được, lòng nặng trĩu một nỗi buồn
ray rứt. . .
Khi
hoà bình, ông em dẫn bà vợ miền Bắc về quê,
cô em gái cũng đưa về ông chồng xứ Huế,
bà con dòng họ xì xào bình phẩm, không giống như
hồi ông gìa Nam Bộ lấy vợ.
Nếu nói nhà ông có máu " kỳ thị" mà
phân chia Nam Bắc là không đúng, mẹ ông thương
cô con dâu Bắc kỳ như con gái, thì ra Bắc có năm,
bảy đường Bắc, cũng như Nam có năm,
bảy đường Nam. Cứ đem hai bà dâu miền
Bắc này ra so sánh với nhau, y như người cõi
trên với người cõi dưới. Tính ông hiền
hoà ai nói gì cũng cười, ai xin gì cũng cho,
không nghĩ tới chuyện chính trị, chính em mà ghét bỏ anh em, người Việt
với nhau là đã phải thương nhau, huống
gì lại là anh em một nhà. Giá chi mà cứ sống tương
thân, tương ái như mấy trái bầu, trái bí
trồng ở sân sau, anh
em đâu có nhiều cái lấn cấn để ông phải
ra đi, sống kiếp tha hương mà lòng lại thương
nhớ quê xa biền biệt. Cái gì nó đã rành rành ra
đó, cả nhà ông đâu phải con nít để mấy
người dâu , rể lên
lớp dạy dỗ về lòng yêu nước
thương nòi, thành ra sau bao nhiêu năm ngồi lại
với nhau, nói cho nhau nghe mà lại toàn những điều
chỏi ngược. Trong anh em đã có mòi xích mích, người
nóng tánh thì mượn chén rượu cay để chửi
xiên chửi xéo, người hiền lành như ông thì
nín thinh cho êm nhà, êm cửa.
Oâi thôi! Đó là chuyện cũ, ông già Nam Bộ
hiền lành vẫn cười hịch hạc bỏ qua tất
cả những chuyện xích mích cuả quá khứ. Nhưng
để tránh lôi thôi, ông không đến gần lũ
em khác tính, không ở chung một nhà, để tránh chuyện
" gà cùng một mẹ" mà lại đá nhau, sinh cảnh
" nồi da xáo thịt".
* *
*
Mùa
thu ở quê người rất đẹp, gió cũng hiu
hắt như ở quê mình nhưng
ngắn ngủi lắm, làm như ông trời hà tiện
những cái đẹp để chỉ cho con người
hưởng in ít mà sinh ra thòm thèm. Ông già Nam Bộ ngẩn
người nghe tiếng lá miá reo sau vườn, có con
chim xanh ở đâu bay về đậu trên hàng rào hót
thánh thót. Cha mẹ ơi! Ông khẽ thì thầm nói với
mình, sao nó hiu hiu giống gió ở quê nhà quá xá, gió cũng
dịu dàng y như những bài thơ muà Thu vợ ông
sáng tác để đối đáp với mấy nữ
sĩ cao niên, và ông nhắm mắt lại để nghe
bụi mía xào xạc đưa mùa thu trở về khu vườn
vắng.
Aùi
chà! Ông nhẩm tính xem năm nay bà nhà ông đã bước
vào tuổi tám mươi mà sao hồn thơ còn mượt
mà như mười tám. Hoá ra người thơ không
bao giờ già, như mùa thu đến mỗi năm mà vẫn
cứ như mới. Ông khe khẽ đọc một bài
thơ của bà ông đã thuộc lòng trong bụng:
"
Một sáng thu về, thu
đến đây
Vườn
thu lác đác, lá thu bay
Rơi
rơi từng cánh, êm êm xuống
Thấp
thoáng lưng trời, chiếc én bay
Một
thoáng trời thu bỗng tuyệt vời
Xanh
xanh cành liễu đọng sương rơi
Nụ
hồng, hồng thắm còn e ấp
Đoá
cúc vàng vàng, tỉnh giấc say
Ta
đón nàng thu ở chốn nào
Đón
trong tĩnh lặng, chút lao xao
Vương
vương nắng nhẹ, lan lan đến
Thu
vẫn bên ta tự kiếp nào.
(
Thơ Liên Trì)
Thơ
cuả vợ ông, cô gái Bắc Ninh năm nào nay đã
tám mươi tuổi, mà sao hồn thơ bát ngát hương
sen như những hồi
công phu buổi sáng, cầm tách trà thơm ông nhâm nhi từng
ngụm nhỏ, nghe sao tình yêu còn nguyên vẹn, không cằn
cỗi đi với thời gian.
Ông
già Nam Bộ đã cùng vợ trải qua bao nhiêu thăng
trầm vinh nhục, đã học được nhiều
bài học tình đời đổi trắng thay đen,
nhưng vì hướng Tâm vào Đạo, bởi vậy
thường đã hoá
giải được nhiều nỗi đắng cay thành
mật ngọt, đem cái đau buồn ra niềm vui
để chia xẻ với hết thảy mọi người
mà ông bà có cơ duyên gặp gỡ. Mỗi buổi
sáng, ông già Nam Bộ lắng nghe tiếng chuông ngân khi
bà bắt đầu chuẩn bị thời kinh sớm. Mùi
hương trầm thoảng bay trong căn nhà nhỏ,
ông mơ màng thấy cuộc đời mỗi người
y hệt một dòng sông, tất cả đều chảy
ra biển đời mênh mông vô cùng vô tận. Đời
có nghĩa gì đâu, như ông đã sống gần hết
một đời, cuối cùng nghe như
một tiếng chuông ngân tan vào cõi hư vô, tịch
mịch.
Quý
mến tặng bác Đoàn văn Lang, ông già Nam Bộ.
Nguyên
Nhung, 2004.