NHỚ

CHUYỆN

RUỘNG ÐỒNG

 

bài của

LÊ CẦN THƠ

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

Càng lớn tuổi người ta càng có nhiều phút giây ngẫm ngợi lại chuyện đã qua. Ban ngày làm việc nhiều, đêm về đáng lý dành thời gian nghỉ ngơi... thế nhưng "ngủ" chẳng được bao nhiêu mà cứ gát tay trằn trọc suy nghĩ chuyện đâu đâu. Có hôm ngủ sớm, con cháu thấy vậy mừng thầm..., vậy mà khuya lơ khuya lắc chợt nhiên mở bừng đôi mắt ráo hoảnh nhìn trong màn đêm đày đặc. Cố nhắm nghiền mắt lại để dỗ giấc nhưng không sao ngủ tiếp được, đành phải thức trong đêm. Rồi thì bao nhiêu chuyên xảy ra trong đời cứ luân phiên trở về tâm trí. Chuyện mới xảy ra trong ngày, trong tuần, trong tháng, trong năm... Rồi chuyện thời xa lắc xa lơ chẳng biết từ bấy lâu nay chui rúc nơi đâu, nay lại hiện lên như một màn ảnh truyền hình, bắt mình phải nhớ, nhớ một cách chi li. Ðó là nguyên nhân có bài viết ngắn nầy, mong bạn đọc cảm thông và chia sẻ cho.

 

ÐUỔI BẮT CHIM TRÊN RUỘNG LÚA

Lúc còn ở quê nhà, mỗi lần có dịp đi qua phà Mỹ Thuận có lẽ bạn gặp cảnh bán chim rô-ti vàng hực thơm lừng trên các tiệm bán cơm cho khách qua đường, hay các cô gái bưng trên các mâm chất đầy chim hết sức quyến rũ? Bạn cũng bắt gặp những chị, những em cầm từng chùm chim sống, mỗi chùm một chục con lớn nhỏ chạy theo các xe chờ qua phà hay phà vừa cặp bến để mời khách qua đường mua làm quà tặng thân nhân? Chim là món ăn ngon và dĩ nhiên giá chim cũng đắt so với những loại thức ăn khác. Nhưng để có được chim bán ngoài chợ, nơi bến phà, người dân phải trải qua giai đoạn săn bắt không kém phần vất vả. - Ðồng Tháp Mười vì là đồng cỏ bạt ngàn nên rất nhiều chim sinh sống ở đó, là chỗ để người dân tìm mọi cách săn bắt để đổi lấy cái ăn cái mặc. “Chim trời cá nước”, ai bắt được nấy ăn. Ông bà ta khi xưa từng nói như vậy.

Bắt chim, người ta có nhiều cách: cắm câu, soi đèn, đuổi bóng, gài bẫy, quất bằng cây..., phần đông là trên ruộng lúa đang chín, vì lúc đó chim mới gom về để kiếm ăn. Ngày trước mỗi năm chỉ làm ruộng một mùa, nên khoảng thời gian từ tháng mười một, tháng chạp, tháng giêng âm lịch là lúc có lúa chín đồng, mới có nhiều chim để bán. Sau nầy do làm lúa thần nông, mỗi năm hai ba vụ nên hầu như lúc nào cũng thấy có bán chim. Chim bán ngoài chợ thường là dỏ dẻ, ốc cao, chằng nghịt (gà nước), thỉnh thoảng mới thấy bán chim quốc, le le... Thịt chim ngon nhứt là ốc cao (mắt đỏ), chằng nghịt và dỏ dẻ, nên khi mua, người ta thường lựa những loại chim đó.

Việc bắt chim để bán đã trở thành "nghề nghiệp", tôi không nói rõ ở đây, mà chỉ kể vài cách thông thường có tính cách gia đình mà vùng quê tôi đã thực hiện vào những năm tôi còn thơ trẻ.

Cắm câu chim: Thường vào mùa nước rút, lúa bắt đầu chín vàng, trên ruộng các loại cá tép cũng theo con nước xuống các chỗ trũng để tiếp tục sống. Mặt ruộng cạn nước, nên loài chim cũng lội dẫm dấu trên đó để tìm mồi. Chúng tôi mua lưỡi câu cá lòng tong (lưỡi nhỏ), tóm dây chỉ (sau nầy xài dây gân), dài độ 3 tấc, đầu kia cột vào lóng sậy, móc con tép vào lưỡi rồi ra khu ruộng lúa chín có vũng nước, cắm các lưỡi câu có tép. Cứ rải đều như vậy hằng trăm lưỡi, một vài giờ trở lại thăm. Chim thấy tép thì mổ ăn, nuốt vào sẽ mắc lưỡi, ban đầu còn giãy giụa, đến khi mệt chỉ còn nằm im chờ... người đến “tóm” lấy bỏ vô giỏ. Bẫy chim cách nầy, có lẽ bạn cũng phần nào để ý, vì khi mua chim sống về làm thịt, thường bạn thấy có lưỡi câu mắc trong cổ hay trong bong bóng chim!

Quất chim bằng roi: Bắt chim cách nầy thường thì hai ba người cùng rủ nhau đi vào các khu ruộng có nhiều chim đang kêu ăn trong đó, nhưng chủ ruộng không cho mình lội dẫm rụng lúa hột. Mỗi người cầm một cây tầm vông nhỏ, dài mấy mét như cần câu nhấp (câu rê), vừa đi cặp mé ruộng, vừa đuổi “hù hù" bằng miệng, hay gõ vào thùng thiếc gây tiếng động, chim đang ăn dưới ruộng hoảng sợ vụt bay lên, người cầm roi nhanh chóng quất, nếu may mắn sẽ trúng vào cánh và chim rớt xuống... lúc đó mới lội vô bắt. Săn chim cách nầy được rất ít, chỉ đủ để ăn một bữa trong gia đình mà thôi.

Ðuổi chim bằng bóng (lọp): Cách nầy sẽ bắt được nhiều chim hơn, có thể dư ăn và còn đi bán nữa. Người ta dùng cái bóng (giống như cái lọp đặt cá), đặt vào một nơi có nhiều chim đi qua, hai bên miệng bóng trải đăng chạy dài tạo thành hình chữ V, phía bên trên miệng bóng phủ lớp cỏ hay rơm. Khi chim bị đuổi dồn, đến gặp mí đăng sẽ chạy lần tới miệng rồi “nột” quá chui vào bóng - trường hợp vỗ cánh bay lên cũng khó thoát vì đã có lớp cỏ hay rơm phủ chận. Ðuổi chim cách nầy cũng không cần phải lội vôi ruộng lúa, mà người ta cột nhiều cái lon sữa bò có đụt lỗ bỏ đá hay cây đinh vào rồi cột nhiều cái vô một sợi dây luộc dài, căng ngang khu ruộng. Từ hướng phía trước miệng bóng một khoảng xa, người ta căng dây rồi giựt mạnh, tiếng động leng keng hoà với tiếng la của nhiều người... chim sợ phải tìm đường trốn chạy. Những con chim lớn vỗ cánh bay lên sẽ bị "quất" rớt xuống, những con chim nhỏ cỡ ốc cao, chằng nghịt, dỏ dẻ... thì co chân chạy tìm chỗ thoát thân; càng chạy, chúng càng gần "rọ", để rồi... tất cả lại gặp nhau trong chiếc bóng hết sức “bóng lộn”, chen nhau ở đó kêu chí choé. Tới nơi người ta chỉ cần giở bóng lên, tháo đít bóng, thọc tay vô bắt từng cô chú chim để vô giỏ như người ta làm một trò chơi không hơn không kém! Thỉnh thoảng cũng có mấy chú chuột đồng lẻ bầy đi “ăn vụng” ban ngày hoảng hốt chui vào hay một vài con chồn mướp chẳng may tìm vào bóng trước, nhất là chồn, thì lần đuổi bắt chim nầy xem như “thua”, vì khi chồn chui vào trước sẽ giãy giụa làm cái bóng rung rinh, chim bị đuổi nà tới chẳng dám chui vào mà bay túa ra bất kể hiểm nguy!

Chim đuổi được đem về làm lông, ướp chiêm rô-ti hay khìa nước dừa, là món ăn ngon nhiều người ưa thích.

 

ÐẶT TRÚM BẮT LƯƠN

 

Lươn là món ăn khá quen thuộc trong mỗi gia đình: lươn xào sả ớt, lươn um, nấu canh chua, kho mắm, xào lăn v.v... - quán nhậu, canh chua lươn còn gọi là "lẩu lươn"! Ðó là món ăn đặc sản, hấp dẫn. Nhưng có khi nào bạn nghĩ tới cách "bắt nó"? Công phu và "trầy trật" lắm bạn ơi!

Vào mùa khô, người ta có thể tìm "mà" (để xác định miệng hang trong đó có lươn) rồi đào, xom bằng chĩa hoặc câu bằng lưỡi câu có mồi thuốc. Mùa nước thì "đặt trúm” là cách phổ biến nhất.

"Trúm" là tên gọi một loại bẫy để bắt lươn. Nó được làm bằng ống tre dài khoảng một thước, các mắt bên trong được xoi thủng, mắt cuối ống để nguyên cho kín. Lóng tre cuối người ta vùi vài lỗ tròn, hay khoét một khe nhỏ để không khí lọt vào cho lươn thở mà không thể chui ra được. Ðầu ống có một cái hom bện rất khéo, lươn chui vào theo thế xoay tròn, khi vào được thì không thể trở ra. Ðể hom không rớt ra, có một cây gài nhọn đầu xỏ ngang, khi đặt trúm cây này ghim sâu xuống đất, phần trên quấn vô cỏ cho miệng trúm không nổi lên. Ðầu trúm kia nhỏng lên trên cho không khi lọt vô các lỗ hay khe hở cho lươn thở.

Trúm đặt ban đêm, sáng mới đem về. Khi đặt trúm phải để mồi vào ống. Mồi có hai loại: mồi nấu hay mồi đất (gồm đầu ruột cá, ếch nhái v.v...) nấu xong trộn với đất bùn rồi túm vào miếng lá môn), mồi nướng (ếch nhái, thòi lòi v.v...). Cả hai loại mồi đều có trộn cám cho thơm. Thường người ta đặt lươn trên những mương nước đọng (nếu nước chảy thông thương cũng ít thôi, có nhiều cỏ, lục bình, vì lươn hay ở những nơi đó), hay trên ruộng có trầm thủy (đặt dọc theo các giồng cỏ, mé mương). Miệng ống trúm quay về hướng “dưới gió” hoặc phía “trên nước" để mùi thơm của mồi theo gió hay xuôi nước cho lươn bắt đuợc mùi... dẫn xác tới chui vào ống là đã chấp nhận "không hẹn ngày trở lại với đồng bọn, với khoảng trời tự do”! Sáng ra bạn chỉ việc giở ống trúm lên với cảm giác đặc biệt: ống trúm nào nặng trịch, không có nước, hoặc nước trong ống chảy ra nhơn nhớt, là chắc ăn, lươn đã nằm chen trong đó “lềnh khênh"! Về tới nhà, bạn lấy hom ra trút ngược ống trúm vô rổ xúc, những con lươn vàng hườm hay đốm bông đen vàng bò lểnh nghểnh... phát ham!

Có một lúc giá tre quá đắt, mỗi mùa trúm phải tốn rất nhiều, người ta có thể thay thế ống tre bằng loại "tự chế rẻ tiền": đó là lấy bẹ chuối ốp lại, để hom vào rồi lấy dây chuối quấn xung quanh, đem đặt bình thường. Sáng ra đi gom, thấy ống nào lươn chun vô thì trút vô xuồng hay giỏ rồi quăng ống bẹ chuối, lấy cái hom để tiếp tục đặt cho đêm hôm sau. Một cây chuối có bao nhiêu bẹ là được bấy nhiêu ống trúm. Lo xong mồi, ra vườn chặt mấy cây chuối (đã đốn buồng) chở ra ruộng là ta có mấy chục ống trúm.

Nếu có dịp về miền quê sông nước đồng bằng sông Cửu Long quanh năm phù sa nước ngọt như vùng Trường Long - Phong Ðiền quê tôi, bạn sẽ mê biết mấy cảnh đặt trúm bắt lươn mà tôi vừa kể trên đây.

 

ÐẶT LỜ BẮT CÁ SẶT

 

Cá sặt là loại cá thông dụng nhứt của bà con sống ở thôn quê. Bắt được cá sặt, mùa khô thì tát mương, tát đìa, mùa nước nổi thì đặt lờ để bắt. Cá sặt thường sặt bướm, còn sặt rằn ở đồng chúng tôi rất ít. - đây tôi chỉ nói tới việc đặt lờ bắt cá sặt bướm để ăn, để bán... Còn làm mắm thì người ta tát đìa mới có số lượng nhiều.

Lờ đan bằng nan tre vót mỏng và bóng, đan ô vuông cỡ ngón tay cái vừa lọt để cá không thể chui ra. Mỗi cái lờ đan chiều dài chừng 1 mét, chiều ngang chừng 4 tấc (có thể kích thước lớn hơn - lờ sẽ to hơn khi cần đặt những vùng đất thấp, nước dâng cao). Cóp chiều dài lại, chồm mí hai chéo bên ngoài với nhau, chừa khoảng giữa làm miệng lờ. Hai đầu ráp hai mặt đan loại nan vót tròn, mịn bà thật bóng, có một cái hom cũng thật bóng lộn, cá có thể chui vào và lội ra được.

Ðặt lờ trên những luồng dọn sẵn trên đồng, bằng cách dùng phảng phát cỏ trống vài mét, gom cỏ lại, đặt chiếc lờ xuống, hai hom hướng theo hai bên khoảng trống đã dọn, cỏ tấn hai bên lờ, đậy trên miệng lờ một nhúm cỏ cho có bóng mát bên trong lờ. Trường hợp trên đồng có nhiều giồng cỏ, người ta có thể cắt ngang giồng một khoảng bằng chiếc lờ rồi đặt lờ đưa hai mặt có hom sang hai phía ruộng. Cá sẽ lội qua lại chiếc lờ. Tôi có dịp quan sát diễn tiến cá lội vô ra một chiếc lờ và hình dung được như sau:

Trên kinh Hội đồng Quỳ trong vùng Kinh Mới - Trường Long, trưa đó tôi nằm trên chiếc sạp tre cao, trên sạp có mui ghe che để hai anh em chúng tôi đi đặt lờ và giăng lưới về nghỉ ngơi (như một cái chòi nhỏ), bên dưới nước sâu có bóng mát, tôi thử đặt một chiếc lờ sau khi dọn luồng trống thật im vắng. Ðứng bóng, đầu tiên tôi thấy có một con cá sặt đang lội tới mặt lờ. Nó vờn qua vờn lại, cụng đầu vô mặt lờ và lần riết tới lỗ có hom, con cá thong thả bơi vào. Nó vô được bên trong lờ, bỗng tung tăng đùa giỡn một mình trong chiếc lờ bóng lộn. Một lát nó bơi trở ra ngoài. Ít phút sau, năm sáu con cá cùng đến lần lượt chui vào lờ. Rồi lại có mấy con chui ra đi rủ nhiều con khác cùng đến rồi chui vào. Cứ diễn ra như vậy, khiến tôi chợt nghĩ, chiếc hom chỉ làm để giữ bắt cá lúc mình đến gần gây tiếng động chớ không phải là chiếc bẫy để giữ cá trong lúc bình thường. Cá lội tự do vô ra và chúng rủ rê nhau vào chỗ bóng lộn, lạ lẫm như vậy để đùa giỡn, không ngờ đó là cái bẫy để tóm gọn bọn chúng? Người ta đi thăm lờ, nếu may mắn đúng vào lúc cá rủ nhau vào đông thì "trúng", bằng ngược lại, lúc chúng lội ra đi tìm thêm bạn bè... thì xem như "thất". Tôi nghĩ như vậy. Dĩ nhiên là lần nằm theo dõi đó, tôi lợi dụng lúc lũ cá rủ nhau vào đông nhứt, nhảy xuống giở lờ lên. Các bạn có biết, tôi đã bắt được đến một cân cá sặt ngon lành!

Bủa lưới để bắt cá rô, nhứt là cá rô mề cỡ 3, 4 ngón tay là một điều thú vị. Dịp khác tôi sẽ kể bạn nghe.

 

GIĂNG CÂU BẮT CÁ THEO MÙA

Mỹ muốn ăn cá chỉ cần vào các chợ là đã có đủ loại để lựa mua, mặc tình khen chê đủ điều. Lúc còn ở quê nhà, cá được bày bán ngoài chợ dưới hai hình thức: cá bán trong các lô sạp của vựa cá và cá bán rong ngoài chợ nhóm do chính những người từ trong quê mang đến không thường xuyên. Tôi có thói quen, nếu cần đi mua cá thì lội bộ dọc theo khu vực dành cho hàng hoá của mọi người dân được bày bán đủ loại mà ngày nay trong nước dùng nhóm từ ngữ "tự tiêu tự sản", vì ở đó tôi có thể tìm được các loại cá mình thích mua, và mua với một giá có thể đắt hơn hoặc rẻ hơn trong các lô sạp bán buôn chuyên nghiệp - người bán chính là người đã tự tìm bắt được các loại cá đó để bán lấy tiền mua sắm những thứ cần thiết trong cuộc sống của họ.

Người dân thôn quê thật thà chất phác, nghĩ sao nói vậy, không "đầu môi chót lưỡi”, họ bán buôn theo cách tính công sức của mình đối với sản phẩm làm ra, và khi họ nói giá thế nào là bán thế đó, không thách giá cao để nghe người mua trả rẻ lại. Ðặc điểm thứ hai là, đa số những gì họ tạo ra, vì cần lo trang trải gia đình nên thường thì họ "chắt mót" đến đáng thương: không dám ăn những loại tốt, loại ngon, cố sàng lọc để đem bán lấy tiền, có cần ăn thì lựa thứ hư xấu, thứ giạt ra. Trái cây, rau cải, cá mắm... thứ nào cũng vậy, họ chọn những loại tốt, ngon mang ra chợ bán cho được khá tiền hơn. Hiểu được tâm tính như vậy nên mỗi khi mua của những người nầy, tôi không bao giờ trả giá - họ nói bao nhiêu, nếu xét thấy đủ tiền thì mua, không thì thôi... vì tôi đã cảm thông được nỗi khó nhọc mà họ đã tạo ra sản phẩm mang bán kiếm tiền. Chỉ riêng về "cá", đã nhắc nhớ trong tôi bao nhiêu chuyện mà tôi đã trải qua trong thời thơ trẻ, xin được kể ra đây như một kỷ niệm đời mình: chuyện giăng câu bắt cá.

Nơi miền quê tôi ở thời thập niên năm mươi sáu mươi có thể bắt cá quanh năm. Mùa nước nổi thì bắt trên đồng ruộng, mùa nước rút cạn đồng thì bắt cá dưới sông, dưới rạch. Bắt cá có nhiều cách: câu, lưới, đặt lờ, đăng lọp, đuổi bóng, kéo vó, chận ụ, dở chà, tát mương đìa v.v... Riêng bài viết nầy tôi chỉ nói về câu cá theo mùa.

Câu cá có nhiều cách: câu tay bằng cần câu (kể cả câu rê, câu nhấp), câu cắm (mỗi cần câu có một lưỡi), câu giăng (mỗi giềng câu 3 hoặc 4 lưỡi, khi giăng ở hai đầu giềng câu gắn vào hai cây đài bằng sậy hoặc đế, cắm xuống đất, căng thẳng dây ra), câu thả dưới sông (mỗi giềng câu dài đôi ba trăm mét và có đến hằng mấy trăm lưỡi). Lưỡi câu có nhiều loại (câu đúc, câu giáo ó), nhiều cỡ (từ nhỏ đến lớn), riêng câu rê - câu nhấp lưỡi to được uốn dạng đặc biệt để móc con mồi thường là con thằn lằn, con nhái, khi móc vào xong, còn bứt cọng rau muống chận lại từ đầu lưỡi đến đốc câu (chỗ tóm vào dây câu) để khi kéo rê lưỡi câu trên mặt nước, mặt cỏ không bị vướng vật cản và mồi không sút ra. Câu rê - câu nhấp thường vào lúc chạng vạng tối hay lúc mờ sáng và chỉ bắt loại cá lóc vào mùa nước nổi, nước bắt đầu rút cạn trên đồng, cá gom xuống ao đìa mương ruộng. Trường hợp rê hoặc nhấp cá bông thường thì trên sông mà người ta thấy sự xuất hiện của loài cá nầy, nhưng không cần xài loại lưỡi câu nhấp, mà xài một loại khác, lưỡi câu đúc hay lưỡi câu hai, ba chia, tóm dây rồi cột dưới chân con vịt nhỏ để nó bơi trên mặt nước, cá bông thấy vịt nhào đến táp sẽ vướng vào các lưỡi cột bên dưới chân vịt. Lưỡi câu giáo ó thường để giăng, cấm bắt cá trê và lưỡi câu đúc để bắt cá lóc. Các loại cá khác như cá rô, cá trèn, cá chốt, cá thác lác, cá chài, cá mè dinh, cá he v.v... thì lưỡi câu loại nào cũng có thể bắt được nếu chúng đói mồi, chịu cắn câu.

Mồi câu có nhiều loại, nhưng có thể xếp thành hai loại: mồi chạy (là mồi di động được) như con nhái bầu, con cá sặt non, con cua nhỏ; mồi đứng yên như mồi trùn (trùn hổ, trùn quắn, trùn huyết), mồi tép, mồi cắt (cá sặt chết), mồi khoai lang ngâm nước một đêm rồi nấu chín (dùng cho câu thả trên sông và bắt các loại cá trắng ), mồi ốc (bắt cá lóc vào đầu mùa mưa lúc cá mới lên đồng). Bởi có nhiều loại mồi nên tôi xin nói thêm chi tiết, vì sao?

Cắm câu, giăng câu trên đồng, tùy theo mùa mà sử dụng loại mồi thích hợp để cá chịu ăn. Vào mỗi đầu mùa mưa, cá dưới sông tìm cách lên đồng để tìm chỗ đẻ. Những nơi đọng nước như lung, đìa, các đường lươn ngập nước, cá tập trung nhiều là những nơi có thể cắm, giăng câu để bắt. Lúc nầy đất ruộng bắt đầu tơi ra, những đường nứt nẻ đã liền lại, các loại ốc như ốc bươu, ốc lác bấy lâu nằm trong đất đã xuất hiện. Người ta bắt ốc lác lể ra, dùng làm mồi để cắm, giăng câu bắt cá lóc. Khi nước đã tràn đồng, cá đã đẻ xong, cá mẹ dẫn từng đàn ròng ròng đi ăn khắp nơi, người ta cũng đã bắt đầu phát cỏ dọn đất để cấy (cấy giâm khoảng tháng 7 và cấy liền khoảng tháng 10 âm lịch - là cách làm ruộng mỗi năm một mùa vào thời điểm thập niên năm mươi, sáu mươi ở quê tôi), muốn bắt các loại cá thì người ta sử dụng mồi nhái bầu; khi cả đồng đã cấy liền xong thì dùng mồi cá sặt non. Lúc nầy còn dùng mồi cua con. Khi giăng câu bằng mồi cua, thường thì người ta dọn luồng dọc theo các giồng cỏ, móc con cua vào lưỡi thả xuống gần sát mặt đất, cố làm sao cho cua cử động nhử cho cá lóc vào các giồng cỏ tìm mồi ăn, gặp cua chúng sẽ táp và dính câu. Mồi cắt cũng dùng trong thời điểm nầy, vì lúc đó đã vào mùa lạnh, cá ăn ngầm dưới sâu, có thể móc mồi cắt, mồi trùn. Ðặc biệt trùn huyết thì nhử bắt cá trê. Trùn huyết nhỏ con và rất nhớt, khó cầm để móc vào lưỡi, người ta nhai cau tươi rồi nhổ nước cau vào lon mồi, sẽ móc vào lưỡi dễ hơn. Móc mồi trùn huyết, chỉ cần móc một đầu trùn vào lưỡi rồi quấn vòng theo lưỡi (giáo ó), cuối con trùn móc thêm lần nữa là đã có miếng mồi nhử cá ngon lành. Lưỡi câu thả nằm trên mặt đất ngầm, cá trê lội tìm khi gặp miếng mồi sẽ ngoạm ngay. Lưỡi câu nhỏ (để câu cá lòng tong), có thể tóm vào sợi dây gân nhỏ, cột vào một lóng sậy rồi móc trùn, quăng thả trên những lô ruộng đất biền (chỗ nước vô ra thông thương cặp với mé vườn và chỗ mà cá trạch thường sinh sống), sẽ bắt được rất nhiều cá trạch mỗi khi nước lớn trôi vào đây. Mồi tép cũng được sử dụng để móc câu vào những khi nước sắp rút cạn trên đồng, sau đó móc câu dưới mương, đìa và dưới sông khi cá đã theo nước xuống sinh sống nơi đây.

Câu cá thiểu thì đặc biệt hơn. Người ta không sử dụng lưỡi, mà nhợ câu một đầu cột vô cần trúc, một đầu xỏ vô miếng mồi là củ bèo cỡ đầu đũa ăn. Người câu chỉ cần ngồi, một tay cầm cần câu, tay kia hốt cám ném xuống mặt nước để dụ cá đến giành ăn, khi đó chỉ cần quăng, giựt liên tục, con cá thiểu nào ngậm mồi thì bị quăng lên bờ... Giật một hồi thì nghỉ tay để lượm cá bỏ vô rổ, xong rồi tiếp tục vãi cám và quăng giựt liên tục như thế. Câu cá rô, ngoài mồi tép, mồi trùn, người ta còn dùng mồi nhền nhện, mồi cào cào, châu chấu để câu trên ruộng lúa đã trổ đòng đòng, trên mương rạch có cá ăn móng. Câu cá rô thường thì chỉ để tìm cá ăn trong ngày chớ ít khi đem bán. Cá rô bán ngoài chợ là cá giăng lưới, tát đìa...

Thả câu trên sông, thường vào tháng chạp đến tháng tư tháng năm âm lịch (tức trước mùa mưa), có thể dùng mồi tép, mồi trùn hay mồi khoai lang. Câu thả có giềng rất dài, nhiều lưỡi. Cách khoảng năm mươi lưỡi có cột một cục đá cỡ cườm tay để khi giềng câu được quăng xuống sông, sẽ giữ độ chìm xuống mặt đất. Người ta móc mồi vào lưỡi xong, xếp lên một cái "xề" hay cái "sàng" thật khéo, bắt đầu bơi xuồng quăng câu sẽ không bị rối. Thả câu trên sông vào lúc nước những (gần đứng) sắp bắt đầu ròng hay bắt đầu lớn. Như vậy mỗi lần quăng câu chỉ cần trên dưới hai tiếng đồng hồ và thăm câu chỉ một hai lần rồi cuốn câu. Quăng câu, người ta ngồi trên chiếc xuồng, phía sau có gắn bánh lái. Người giăng câu ngồi phía trước, một tay cầm giầm điều khiển xuồng trôi xuôi theo dòng nước, một tay cầm dây câu và cầm quăng xuống sông thật nhịp nhàng, đều đặn. - đầu và cuối đường dây câu, người ta có một sợi dây cột cái phao, ném xuống. Quăng hết câu, cặp xuồng vô bờ ngồi nghỉ, chờ vài mươi phút sau sẽ bơi ra cái phao phăng dây thăm câu, thay mồi và gỡ cá. Có cá dính câu, người ta lấy cái vợt lưới hay cái bội cầm tay hớt giữ cá đề phòng bị cá giẫy và sứt khỏi lưỡi câu. Thăm câu sẽ phăng ngược chiều với dòng nước chảy, trong khi thả câu thì xuôi theo dòng nước. Quăng câu thả trên sông sẽ nhàn hơn giăng hoặc cắm câu trên ruộng, vì trên ruộng, có khi không được phép chống xuồng trên lúa mà phải xăn quần lội, vai quảy cái giỏ đựng cá và lon mồi, sẽ bị lạnh lẽo đến cóng chân tay.

Kinh nghiệm cho thấy, cá trên đồng thường tìm mồi ăn vào lúc chạng vạng tối và lúc sắp hừng đông sáng. Bởi vậy, khi giăng câu ngoài đồng, có thể năm ba xuồng rủ nhau đậu lại một chỗ ngồi hút thuốc, uống trà chờ thăm và móc mồi mới, hoặc lật nóp ngủ đôi ba tiếng đồng hồ để lấy sức, rồi thức dậy đi thay mồi mới chờ đến đợt cá đi tìm ăn khi trời gần sáng mới cuốn câu về. Tất cả các loại và cách giăng, cắm câu đòi hỏi sự bền bỉ, kiên trì và nhất là... đừng nóng tính, bởi vì "chim trời cá nước" ai bắt được nấy ăn, dù trên đồng, dưới sông rất nhiều cá, nó chẳng thèm ăn câu thì đành chịu chớ không làm sao hơn được. Hoặc cùng với bạn bè đi giăng câu, người thì gỡ cá mệt nghỉ, người thì lủi thủi cứ thay mồi mà chẳng thấy con cá nào mắc câu. Thay mồi, vì khi đến giở lưỡi, chẳng thấy mồi đâu, phải móc mồi khác. Có thể mồi thả xuống đã bị các loại cá nhỏ đến rỉa mất, hay đã bị con điên điển, con cua đến cắn phá!. Hơn nữa, cá đi có luồng, nếu thả câu trúng vào luồng cá đi qua nó sẽ ăn nhiều, và ngược lại. Còn nói "tay sát cá", là điều cũng đáng tin lắm - có thể “tay sát cá” là người có một kỹ thuật giăng cắm câu mà chính họ không hiểu được thì sao? Dù là tay sát cá hay không, thì nghề giăng cắm câu bắt cá trên đồng ruộng mà tôi vừa kể, là một nghề thật lạnh lẽo, khổ nhọc, phải thức đêm thức hôm mới bắt được con cá, nhiều thì mang ra chợ bán để mua sắm những thứ cần dùng khác, ít thì để ăn trong gia đình khỏi phải mua. Nên, như trên tôi có đề cập, khi ra chợ mua cá, gặp phải những người dân từ trong thôn quê ra ngồi bán, thật tình tôi chẳng bao giờ trả giá, dù biết rằng khi trả, có thể họ sẽ bán, nhưng nghĩ đến công khó nhọc của họ mới bắt được con cá thì tôi không đành lòng. Tôi đã có thời gian sống trong hoàn cảnh giăng bắt cá khó nhọc như vậy nên sự đồng cảm sâu đậm biết bao.

Tôi nghĩ, muốn đánh giá đúng mức giá trị của sản phẩm làm ra, không gì hơn là chính những ai đã bỏ công sức làm ra được sản phẩm đó. Sự định mức bán mua ngoài xã hội cần có tiếng nói của giới sản xuất trực tiếp, tránh nạn trung gian o ép giá cả và đôi lúc tạo mâu thuẫn, thiệt thòi cho họ. Nghe qua có vẻ chủ quan, nhưng xét cho cùng đó là điều rất công bằng và hợp lý.

 

LÊ CẦN THƠ

(Trích trong QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN,

tác giả tự xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2000)