THỜI

TAO

LOẠN

 

truyện ngắn

PHẠM PHI LONG

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)

 

Tôi nhớ những năm đầu của cuộc chiến khi quân đội Pháp quay trở lại cố trồng ách đô hộ lên quê hương Việt Nam lần nữa thì gia đình tôi cùng những gia đình trong thôn xóm phải rời làng mạc tản cư xa vùng có thể có giao tranh. Chúng tôi chạy quanh chạy quẩn hơn một năm trời, cuối cùng, gia đình tôi cùng gia đình bác Tám quay về xóm cũ.

Chiều hôm đó, chúng tôi gồm bốn người, vợ chồng bác Tám, Ba tôi và tôi, lẻn về xóm cũ dò thăm sự tình, những người khác còn ngồi lóng ngóng trong ngọn rạch Cây Da chờ nghe tin tức của chúng tôi.

Chiều tàn, mặt trời còn lấp ló sau hàng cây xanh, chúng tôi từ ngọn rạch Da băng qua cánh đồng nhỏ hướng về khu vườn nhà tôi, xóm Rạch Chùa. Cánh đồng giữa Rạch Da và Rạch Chùa chỉ xa nhau bằng khoảng cách của hai mươi công đất ruộng nhưng đã hai mùa qua ruộng bỏ hoang, cỏ song chằng lẫn cỏ may thân cứng và dài như dây leo mọc loạn. Chúng tôi phần sợ lính Tây, phần phải vẹt cỏ vướng chân nên mất gần nửa giờ mới tới được bờ cây cuối vườn nhà. Ba tôi đi trước rồi tới bác Tám trai, bác Tám gái, tôi đi sau cùng. Chúng tôi men theo liếp vườn cau đi lần vô nền nhà cũ. Nhà đã bị đốt cháy rụi. Khi còn cách nền nhà chỉ một bờ mương, bên kia bờ là hàng rào cây xương rồng, Ba tôi đứng khựng lại để nghe ngóng động tĩnh, mọi người hồi hộp đứng yên. Cảnh vật im lìm đến rợn người. Tôi run sợ nổi da gà từng cơn mà không biết mình sợ lính Tây, sợ ma, hay sợ vẻ im vắng hoang tàn bao bọc chung quanh. Ngước nhìn Ba tôi, Ba tôi đứng trơ, mặt đầy vẻ ngậm ngùi nhìn đám cỏ dại mọc tràn lan trên nền nhà. Tôi không buồn, cũng không vui, tôi đương hình dung lại bóng dáng ngôi nhà xưa, nơi đã ghi lại bao nhiêu kỷ niệm tuổi thơ đời tôi nay chỉ còn là một đống gạch ngói đổ nát hoang tàn với mấy loài dây leo mọc choàng chằng chịt lên nhau. Trước sân nhà, hàng rào bông bụp mọc um tùm, ngọn vươn cao khỏi đầu. Dưới bến sông, mấy tàu lá dừa của cây dừa Tam Quan ngày xưa bộp lá vàng tươi bây giờ gẫy cụp, rũ xuống héo khô vì lằn đạn từ đồn lính Tây bắn xuyên qua. Lặng nhìn một lát, chúng tôi vẹt cỏ lội qua mương bước lên nền nhà thì trời cũng vừa chạng vạng, bầy chim trao trảo tụ trên cây điều ở góc vườn gọi nhau inh ỏi, xôn xao chuyền qua nhảy lại giành chỗ ngủ. Sau một hồi im lặng, Ba tôi như chợt tỉnh, ông lặng lẽ cầm tay tôi bước qua hàng rào ranh đất tìm bác Tám. Không thấy bác đâu, Ba tôi gọi nhỏ:

- Anh Tám ơi, anh Tám.

Không nghe tiếng trả lời, Ba tôi bước tránh đống gạch ngói, đi vòng qua bụi tre Tàu thì thấy vợ chồng bác Tám im lặng ngồi kề bên nhau trên cây đà ngang của nhà bác, cây đà bị đốt cháy nám đen, nằm vắt nửa trên nửa dưới nền nhà. Thấy chúng tôi tới nhưng hai người vẫn làm thinh, tay bác trai chống càm vẻ mặt rầu rĩ, bác gái cũng không nói năng gì trong lúc hai tay vân vê một chiếc lá vàng. Ba tôi tới gần đứng nói chuyện với bác trai, tôi vẹt cỏ đi tới cây mận nghiêng nghiêng bên bờ mương. Ngó tớií ngó lui không thấy trái nào. Tôi nhớ ngày trước cây mận nầy luôn luôn bông trái sai oằn nhưng nay thì cằn cỗi, sâu nhện giăng đầy. Một lát, tôi quay trở lại thì vừa lúc Ba tôi và bác Tám rủ nhau đưa gia đình vào tạm trú dưới mái hiên chùa trong ngọn rạch. Tôi không biết ngôi chùa được xây cất từ bao giờ nhưng chùa thật đồ sộ trang nghiêm. Bên ngoài thì mái ngói rêu phong nhưng tường vôi vững chắc, trong thì cột tròn gỗ lim đen bóng, một vòng tay ôm không giáp, bàn thờ phật, bàn ghế ngồi, các bộ ván, toàn bằng gỗ quí. Trên chánh điện, bàn thờ phật Thích Ca Mâu Ni cao vời vợi, tượng các chư phật đầy trên các bàn chung quanh. Cửa trước của chánh điện không bao giờ mở, trừ những ngày rằm, ngày đại lễ hằng năm nên chánh điện tối om om, nhang đèn leo lét thêm vẻ trang nghiêm đáng sợ, tôi không bao giờ một mình dám léo hánh lên nơi thờ phượng đầy vẻ thâm u huyền bí nầy.

Chúng tôi trước sau có tất cả bảy, tám gia đình ở đậu trong chùa. Nhờ có mái ngói, tường cao. Và có lẽ, ai ai cũng tin tưởng rằng mình ở ngay dưới mái hiên chùa, dưới chân tượng phật thì dễ được trời phật chở che nên ai nấy tạm yên lòng. Thời gian hơn một năm trôi qua, cuộc sống của người tản cư quá nhàn rỗi vì người nông dân như chúng tôi mà mất ruộng, xa vườn thì còn gì nữa để làm! Cho nên ngày ngày ngoài việc bắt ốc hái rau tạm sống chờ vận thế đổi thay thì người lớn thường tụ năm, tụ ba, kể cho nhau biết những chuyện thời sự mới nghe ngóng được, trẻ con thì tối ngày thả rông đánh đu đánh đáo vì đâu còn trường học nào mở cửa để học. Ðêm đêm bọn con nít chúng tôi ngồi rút bên nhau nghe mấy anh lớn kể chuyện ma quái hoang đường như chuyện con ma vú dài, con quỷ tóc xanh râu đỏ ở gốc cây da ... Chuyện ma kể trong đêm tối dễ gây ảo giác rùng rợn lắm, nên đêm đêm đám con nít choai choai chúng tôi không dám một mình ra hè đi đái. Chuyện nào thì chuyện, dù có kinh hoàng như chuyện con quỷ ở ngọn cây dương hay chuyện con ma áo trắng, tóc xõa tới lưng, thường thướt tha trong khu mả lạng vào những đêm trăng mờ ảo, nhưng chuyện nghe rợn người nhứt vẫn là chuyện con ma sống, nó đang ở trong Vườn Mồ Côi! Những đêm thanh vắng nó cất tiếng hú nghe lảnh lót, lồng lộng mà người ở xa tới năm, bảy công đất vẫn còn nghe, hay những đêm mưa gào gió thét thì tiếng hú của nó càng thêm thê lương não nùng hơn. . .

 

***

Một buổi trưa hè trời mây quang đãng, gió hiu hiu xào xạc cành lá trên ngọn mấy cây sao cao ngất trước sân chùa, bọn chúng tôi bốn đứa quay quần chơi tán u dưới bóng mát tàn cây, bỗng thằng Sinh từ đâu chạy tới nói lớn:

- Thằng chổng chết trôi, tụi bây ơi, đi coi thằng chổng chết trôi.

Chúng tôi dừng tay, có đứa hỏi:

- Ở đâu?

Sinh chưa kịp trả lời, tôi nói chen vô:

- Thôi, tao hổng đi đâu. Ghê lắm, tao sợ ma!

Tuy nói vậy nhưng tôi là đứa duy nhứt nghỉ chơi để đi theo Sinh coi thằng chổng trôi sông.

Thằng chổng không trôi bềnh bồng trên sông mà nổi phình, vướng cỏ ở khúc quanh vắng vẻ, cây cối um tùm trong ngọn rạch. Hai đứa tôi đi gần tới nơi, tôi vừa bước lên cây cầu khỉ bắc ngang ngọn rạch trong khi Sinh đã tới bờ bên kia, tôi vì tánh nhút nhát nên chần chờ đứng trên cầu ngó về hướng ngọn rạch, nơi có hai người đàn ông đang đứng bên bờ nói chuyện, tôi thấy cái thây ma nổi phình trên mặt nước, tay chưn vểnh lên trời, màu da xám xịt như màu đất bùn, căng phồng, thẳng băng như thằng hình cao su chứa đầy hơi. Ghê quá! Tôi đứng lặng trên cầu một lát rồi lần bước lùi trở lại bờ. Bây giờ tôi mới nhận ra hai người đàn ông đứng gần chỗ thằng chổng đương vướng một chưn trong đám cỏ mái giầm là bác Hai Kỳ và chú Tư Hoành. Hai người bàn chuyện một lát rồi cả hai, mỗi người cầm một cây xuổng đi tới gốc cây bằng lăng, họ xăm xoi nhìn xuống đất một hồi rồi bắt đầu xắn xuổng đào đất. Ðất bên lạch nước mềm ụm, chỉ một lát sau hai ông đã đào xong một cái mương nhỏ, bề ngang độ hơn nửa sải tay, bề dài dài hơn một người nằm, nước tràn vô ngang bằng mặt rạch. Bác Hai Kỳ cầm cây xuổng cắm đứng sững xuống đất để đó, xong bác đi tới bụi chuối cắt hai tàu lá chuối khô, tuốt hết lá lấy cọng nối lại thành sợi dây dài. Vừa đi trở lại chỗ mương mới đào bác vừa thắt đầu dây lại thành một cái thòng lọng. Ðằng kia, chú Tư Hoành đương cầm khúc tre tầm vông đẩy cái thây ma tới chỗ lỗ huyệt mới đào rồi đứng chờ. Bác Hai Kỳ tới, bác loay quây tròng cái thòng lọng vào cổ thây ma rồi người kéo dây, người cầm sào đẩy thằng chổng vô cái huyệt đầy nước. Thằng Sinh vẫn gan lì đứng đó, tay bịt mũi trố mắt nhìn.

Bình sinh tôi rất sợ ma, nhưng lần nầy tôi tự nhiên nổi tánh tò mò bèn làm gan bước qua cầu tới đứng gần bên Sinh nhìn thây ma một lần cho rõ. Nó sình chương, đầu bể một mảng, bụng lủng một lỗ, bọt nhớt hồng hồng theo đó trào ra, hai đầu gối co lên, tay khuỳnh rộng đưa lên trông như người đang muốn phân bua nỗi lòng với trời cao. Thỉnh thoảng, một làn gió đảo ngược đưa mùi hôi thúi tỏa lên nực nồng. Tôi đưa tay bịt mũi nhưng vẫn cứ đứng nhìn sợi dây thòng lọng kéo cái thây ma. Mái tóc của thằng chổng đóng đầy rông rêu trông giống như rễ của về lục bình theo sóng lăn tăn nhấp nhô trên mặt nước và hàm râu thưa leo nheo mấy sợi nằm quẹp trên cần cổ. Trông thảm quá! Tôi rùng mình mấy lần mà không biết vì sợ cái xác chết hay vì thương tâm tội tình cho thân xác của một con người. Một lát, tôi kéo Sinh đi xa ra nhưng nó giằng tay lại, không đi. Tôi một mình tới bên liếp vườn chuối đứng nhìn chú Tư Hoành và bác Kỳ dùng xuổng xúc đất đổ lên thây ma. Mỗi xuổng đất bùn đổ lên, thây ma run rinh chao động rồi chìm dần, nước trong huyệt trào ra ngoài rạch. Lát sau, cái thây ma hoàn toàn nằm dưới lớp đất mềm. Ðất đào lên ở đó, lấp lại ở đó, xác người độn lên thành núm mộ lúp xúp dưới gốc cây bằng lăng. Chôn xong thằng chổng, bác Kỳ và chú Hoành đi tới bờ chuối khoát nước dưới mương lên rửa tay rồi vấn thuốc đốt hút. Tôi thơ thẩn hết nhìn núm mộ đất bùn trộn cỏ lác lại ngó nhánh bằng lăng có vài đóa hoa trái mùa lung linh trong gió, tôi mơ hồ tưởng như có một bàn tay gầy guộc, xanh xao, cầm nhánh bông đưa qua đưa lại tiễn biệt cái thây ma!

Sinh tới đứng kề bên tôi, tôi không nhìn nó mà nói bâng quơ:

- Tội nghiệp quá! Không biết người chết là ai?

Sinh nói tỉnh bơ:

- Tội nghiệp gì? Thây ma là ông Hai Bụng ở trong Vườn Mồ Côi đó. Ba tao nói ổng ăn cắp mấy buồng cau và hai, ba buồng chuối của nhà tao!

Vừa nghe, tự nhiên nỗi bồi hồi thương cảm dâng lên trong lòng, tôi đứng lặng thinh một lát rồi vừa lủi thủi đi về vừa nghĩ thầm:

- Ông Hai Bụng là ai mà mấy buồng cau, mấy quầy chuối nhà thằng Sinh mất ổng cũng mất mạng theo?!

 

***

Sau năm 1954, tôi từ thành thị về thăm làng quê. Chiến tranh lại bắt đầu, nhưng lần nầy không phải cuộc chiến chống ngoại xâm mà là cuộc chiến tương tàn, khóc liệt, một mất một còn giữa hai ý thức hệ; Tự Do và Nô Lệ Mới.

Một buổi chiều thu, bầu trời cao và xanh biếc, ông giáo Thương, người có nhiều chữ nghĩa nhứt trong xóm chùa, đã dạy bọn con nít chúng tôi học trong gần hai năm chúng tôi tản cư ở đậu trong chùa. Sau mấy năm xa cách, hôm nay tôi trở về mới hay thằng Phận, con ông giáo Thương, bạn thời thơ ấu của tôi đã chết trong cuộc chiến vừa qua, và bà Thương cũng đã qua đời từ 3 năm trước. Ông Thương đương một mình ngồi trong căn chòi vách lá, mái tranh, được dựng lên bên đống gạch ngói đổ nát trên nền nhà cũ của gia đình ông. Chiếc ghế ông ngồi làm bằng cây cẩm lai đen mun, có khảm xà cừ, ghế hơi nghiêng vì một chưn bị cháy nám, gẫy mất một phần, một bình trà không nóng để trên chiếc bàn chưn không vững. Ðôi mắt ông đăm đăm nhìn về cánh đồng chiều mờ sương. Tôi ngồi trên chiếc chõng tre chờ nghe thầy kể tiếp câu chuyện không vui đã đeo đẳng, ám ảnh tôi từ thuở còn ở đậu trong chùa.

Thầy kể:

- Ông ấy tên là Thiên, thuở nhỏ ông cũng cắp sách tới trường như ông đây, lớn lên ông là chàng trai chí khí, ông từng đi đó đi đây, rong ruổi chốn sông hồ, rồi một ngày kia, có lẽ vì tình cố hương thôi thúc, và có lẽ cũng vì tình yêu của một người thôn nữ réo gọi trong hồn ông, cuối cùng, tình cố hương và tình yêu của nàng thôn nữ đã thắng mộng giang hồ nên ông giã từ bầu trời cao rộng ngoài kia trở về sống dưới vòm trời quê hương bên dòng sông nhỏ, bên lũy tre xanh, và bên người con gái mà ngày nào tóc còn cột hai bím trên đầu như Na Tra, cùng ông bắt dế, thả diều, rong chơi trong xóm, bây giờ là cô thôn nữ mỹ miều, là đóa hoa ươm đầy hương đồng gió nội. Vợ chồng Thiên và đứa con gái lên ba sống trong hạnh phúc ấm êm bên ruộng lúa, vườn cau, bỗng một đêm kia, đêm ba mươi, trời tối đen như mực, cảnh vật say ngủ im lìm, chợt đâu tiếng súng nổ vang rền và hỏa châu bắn sáng một góc trời. Bom đạn từ hai phía kình chống nhau, cây lá trong vườn xơ xác tả tơi. Mờ sáng, Thiên từ đồng ruộng về nhà mới hay một quả đạn pháo từ đồn lính Tây vô tình cướp mạng người vợ trẻ và đứa con gái của anh. Chôn cất vợ con xong, Thiên bỏ làng đi biệt, không ai biết chàng đi đâu. Hai năm sau, người ta thấy Thiên trở về và anh đã thành một phế nhân, đầu óc lúc tỉnh, lúc mê, vì một viên đạn bay sớt xương sọ anh. Từ đó, anh lang thang làng trên, xóm dưới, ngoài bãi hoang, trên cánh đồng, cuối cùng, không ai còn thấy anh đâu. Cũng từ đó những huyền thoại về ma, quỷ, về tiếng hú rùng rợn giữa đêm khuya thanh vắng và tiếng thì thầm như tiếng âm hồn trong bóng đêm được xóm làng đồn đại loan truyền...

Tai tôi nghe thầy nói, nhưng tâm tư tôi mãi ngược dòng thời gian dõi về bóng hình ông Hai Bụng. Ông chết đã từ lâu, thân xác ông giờ đây đã rã tan dưới lòng đất lạnh nhưng hình ảnh từng xuổng đất bùn đổ trên xác ông đắp thành núm mộ dưới gốc cây bằng lăng vẫn in rõ trong tôi. Ông Thương ngừng nói, ngồi im lặng, tôi muốn nói lời gì để tỏ lòng tội nghiệp vong linh ông Hai Bụng nhưng sao cổ tôi không thoát được thành lời ma cứ ngồi yên mơ tưởng về bao hình bóng thân yêu ngày ấy, những ngày thiếu thốn, lang thang, chen chúc nhau trốn lánh đạn bom dưới mái hiên chùa. Tâm tư tôi còn lẩn quẩn trong vùng kỷ niệm, bỗng tiếng nói của thầy đưa tôi trở về hiện tại:

- Tiếng hú lồng lộng giữa đêm mưa gào gió thét, hay tiếng thì thầm trong đêm thanh vắng mà người nhát gan, nhiều tưởng tượng tưởng là tiếng ma tru, quỷ gọi, hay tiếng của âm hồn trong vườn hoang. Không phải đâu! Ðó chính là tiếng kêu gào, thở than của Thiên. Nó phát ra từ nỗi lòng chứa chan bao nhiêu đau thương, ẩn ức của cuộc đời, từ buồng phổi của một người từng sống đời bình dị như chúng ta. Thiên nói tiếng người, tiếng của đồng loại anh, nhưng tiếng hú hay tiếng thì thầm than vãn của Thiên lúc bấy giờ không phải để cho đồng loại của anh nghe, bởi qua bao biến thiên điên đảo, anh đã bị đẩy sang bên lề cuộc sống, anh như một loài rong biển bị dòng nước cuốn lìa khỏi gốc từ đáy sâu, bềnh bồng trôi nổi mặc cho những lượng sóng bạc đầu vùi dập, đánh dạt vào bờ nằm chơ vơ trên ghềnh đá. Thầy ngừng kể, tay nghiêng bình trà rót mấy giọt cuối cùng vô tách, hớp xong ngụm trà nguội, thầy chậm rãi tiếp: Tiếng kêu thương đó đã xoáy vào tâm hồn thầy. Nhưng, sức người có hạn, thầy đành coi tiếng kêu than của người bạn cũ như là tiếng của con vạc kêu sương, tiếng của con chim lạc đàn trong giông bão vì thầy cũng là cánh chim trong cơn giông bão!

 

***

Bữa nay lạnh, trời không mưa nhưng mây xám vần vũ, khung trời như thấp xuống. Vợ tôi đi vắng, cảnh nhà im lặng quá, tôi ngồi nhìn qua màn cửa kính, ngoài trời không có gió nhưng cái lạnh giữa mùa đông đánh rơi một chiếc lá nữa trên cây sầu đông trước sân nhà, tôi thơ thẩn mơ về miền quá khứ xa xôi, bao nhiêu hình bóng cũ từ lâu đã phai mờ trong ký ức nay bỗng tuần tự kéo về. Tôi nhớ những buổi hoàng hôn có tiếng mõ công phu chiều hòa lẫn tiếng chuông đại hồng chung theo gió ngân nga trong xóm vắng, tôi mơ hồ nghe tiếng kinh tụng niệm trong trẻo, đều đặn, buồn tênh của chú tiểu Thiện Chơn (tôi thường gọi là huynh Chơn), vang vang từ Chánh Ðiện, nhớ những cây sao cao vợi trước sân chùa đã cho chúng tôi bóng mát giữa buổi trưa hè nồng nực, nhớ cảnh tượng chú Tư Hoành cầm cây sào đẩy, ông Hai Kỳ cầm dây kéo cổ thây ma vào lòng huyệt, nhớ hình ảnh cái mả lúp xúp đất bùn nằm dưới gốc cây bằng lăng... Tất cả những cảnh tượng thương yêu, buồn tẻ, lần lượt hiện về trong tâm tư tôi.

Trong nhà, ngoài ngõ im vắng quá. Tôi nhắm mắt lắng nghe âm thanh của sự yên tĩnh dội vào hồn, nghe cả tiếng của Sinh nói về buồng cau xanh, nải chuối vàng và mạng sống của ông Hai Bụng. . .

Tâm hồn tôi đương thơ thẩn trong vùng ký ức xa xôi, bỗng có tiếng nổ máy của chiếc xe hơi vừa vút qua, tôi ngoái nhìn qua khung cửa, càng về chiều màu trời càng xám đục hơn, tôi nhìn chiếc lá cuối cùng trên cây sầu đông lay lay trong gió khiến tôi liên tưởng tới cây bằng lăng đứng bên dòng nước quanh co trong xóm cũ. Tôi tự hỏi, không biết bây giờ trên cành cây bông hoa dại ấy còn có chùm bông màu tím nào đong đưa trên núm mồ hoang kia không!

 

 

Hạ, 2003

PHẠM PHI LONG

(Houston, Texas, Hoa Kỳ)