TUỔI THƠ TÔI
XA MÃI
NGÚT NGÀN
bài của
LÊ CẦN THƠ
(Houston, Texas, Hoa Kỳ)
Trong cuộc sống nầy có lẽ ai cũng đã trải qua những ngày tháng tuổi thơ đậm sâu kỷ niệm. Có thể đó là những kỷ niệm đẹp, hồn nhiên thanh thản; có thể đó là những dấu ấn mang nỗi buồn thương chất chứa trong mỗi thân phận con người mà đấng tạo hoá đã sẵn dành. Tôi không dám so sánh với nhân vật trong Giông Tố của Vũ Trọng Phụng khi Long nói "tôi sinh ra dưới một ngôi sao xấu", nhưng chắc chắn tuổi thơ tôi đã không có gì nổi bật nếu không gặp phải tháng ngày đói nghèo, túng quẩn như phần đông người dân quê tôi sống vào thời chiến tranh thống khổ. Hẳn nhiên có bạn bảo rằng, vậy có điều gì để viết và ai đâu có thời giờ đọc những bài viết "dấm da dấm dớ" như vậy trong lúc phải chạy đua với thời gian để lo tìm cái ăn cái mặc dù đang sống trên đất nước giàu có, tự do và dân chủ đúng nghĩa của nó? Trong cảnh thinh lặng của thời gian và một bất chợt nào đó bạn một mình ngẫm ngợi lại cuộc đời với tuổi thơ mình, sẽ thấy, có một chút gì lãng đãng trôi qua, bâng khuâng, nhung nhớ... và sẽ tự hỏi, tuổi thơ qua đi xa đến ngút ngàn như vậy, thì làm sao tìm lại cho được để mà sẻ chia với thế hệ cháu con - thế hệ mà hôm nay được sống trong một môi trường mới, cảm thấy quá lạ lẫm với năm tháng xa xưa của cha ông... để rồi một ngày đẹp trời nào đó, các bạn trẻ tò mò muốn biết quá khứ của cha ông thì sao?. Ông bà ta có câu "cây có cội, nước có nguồn" thì dù muốn hay không chuyện xảy ra thời xa lắc xa lơ cũng phần nào có gắn liền nhịp thở hôm nay của họ. Nghĩ vậy nên tôi xin được kể tiếp đôi điều về tuổi thơ tôi dù thật sự hôm nay đã xa mãi ngút ngàn, nói như cụ Nguyễn Du thì "mua vui cũng được một vài trống canh"...
CÁ BỐNG KHO TIÊU
Không phải cá bống mú của cô Tấm ngày xưa đi vào huyền thoại đầy tính nhân hậu; cũng không phải cá bống tượng, bống cát, bống dừa, bống kèo... bày bán quanh năm ở chợ cá, mà đây là cá bống trứng chỉ xuất hiện vào mỗi mùa mưa dầm ở miệt đồng bằng miền Nam nước Việt!
Loại cá bống nầy thường bằng đầu đũa ăn, con lớn nhứt cũng chỉ bằng đầu ngón tay út. Dù lớn hay nhỏ con nào bụng cũng căng tròn bầu trứng vàng hực như chực chờ nổ bung ra. Khoảng cuối tháng năm, tháng sáu âm lịch, miệt đồng bằng vào mưa, có khi mưa nhỏ dai dẳng, nước sông dâng đầy, những về lục bình lềnh bềnh trôi giạt vào ra theo con nước lớn ròng. Lúc nầy cá bống cứ bám theo rễ lục bình, bạn chịu khó bơi xuồng kè theo, lấy rổ xúc một lát cũng đủ bữa ăn. Nhưng bắt cá bống nhiều nhứt để đem bán là mấy miệng "đáy” trải trên sông. Cứ mỗi lần kéo "đụt” lên, có thể đến vài ba ký cá nhảy xoi xói trong thau, bà con cặp xuồng lại mua cá tươi về kịp kho tiêu cho bữa ăn chiều. Nếu “đáy” trải ban đêm, người ta "rộng" trong khoang ghe cho nhiều rồi mang ra chợ bán lúc hừng đông.
Bởi cá bống nhỏ con và chúng chỉ ăn bọt nước (?) nên trong bụng không thấy chất thải dơ. Người ta cứ việc xé lá chuối tươi để vô rổ cá rồi chà xát cho sạch nhớt, tróc vãy, chuẩn bị kho. Kho cá bống cũng cần "kỹ thuật" mới ngon. Tôi nhớ lúc Nội tôi còn sống, bà rất thích ăn món cá bống kho tiêu. Khi cá chà xát xong, bà trộn một chút muối cho thắm con cá. Bắc cái "ơ" bằng đất nung (nay thì thường dùng soong nhôm) lên bếp lửa để một chút mỡ và đường thắng lên thành nước màu (bà không xài nước màu có sẵn). Bà rửa cá một lần nữa cho hết chất muối và nhớt, đổ ra rổ dầy, “xốc” cho ráo nước rồi cho vào "ơ", lấy đũa trộn đều. Ðể chừng mười lăm phút mới bắc lên bếp. Cá kho với nước mắm đồng (nước mắm nấu bằng cá đồng như cá sặt, cá lóc v.v... khác với nước mắm biển thường thấy bây giờ) bằng lửa riu riu, để thêm chút đường cho vừa ăn. Khi gần cạn nước, bà chế thêm mỡ heo và rắc tiêu lên thơm phúc. Ăn cơm nóng với cá bống trứng kho tiêu thật tuyệt, ăn nhiều cơm đến quên thôi!
Bây giờ bà nội tôi không còn nữa. Vào mỗi mùa cá bống trứng được bày bán nhiều ngoài chợ, gia đình tôi thường mua về kho tiêu như thời bà tôi còn sống. Dù đủ gia vị và kho theo cách của bà chỉ dẫn nhưng bằng soong nhôm và nước mắm biển nên không ngon bằng.
Là người sinh ra và lớn lên trên miệt đồng bằng sông Hậu, tôi đã quen những món ăn hết sức đơn sơ, giản dị, bình dân và rẻ tiền như món cá bống kho tiêu, phù hợp với cuộc sống thanh bần. Ngày nay, dù bữa ăn có đổi thay bằng thịt heo, bò, gà. vịt với nhiều cách chế biến khác nhau... nhưng ở một góc độ nào đó, theo tôi vẫn thiếu đi cái đậm đà, quyến rũ thắm nét hương quê bằng món cá bống kho tiêu.
LẨU MẮM - MÓN
ĂN MANG CẢ"HƯƠNG ÐỒNG CỎ NỘI"
Lẩu mắm bây giờ không còn mới mẻ gì, bởi nơi đâu cũng có, tùy theo sáng kiến của các chủ quán mà thêm bớt "gia vị" cho trở nên riêng biệt của quán mình để thu hút thực khách. Ngay như ở Cần Thơ quê tôi, có lúc bảng quảng cáo lẩu mắm mọc lên như nấm: Ba Vân, 88, Dạ Lý v.v... Bài viết ngắn nầy không đặc tả cách làm lẩu mắm, cũng không hướng dẫn cách ăn lẩu mắm... mà chỉ đề cập tới một cách nhìn khác: rau sống – "hàng kèm" của lẩu mắm mang cả "hương đồng cỏ nội”.
Nếu có dịp sống ở miền quê, bạn sẽ biết được rất nhiều loại rau, cây cỏ mọc hoang trên khắp ruộng đồng. Chẳng hạn rau dừa, rau muống đồng, bông súng, cù nèo, rau ngỗ, rau nhút, bồn bồn, bông lục bình, bông điên điển, bông so đũa... Những loại rau được trồng như các loại cải (cải xanh, cải bắp, cải ngọt, cải củ), cà trái (cà tím, cà phổi), đậu bắp... và một số rau cải khác như hành, hẹ, giá sống, húng đất, húng nhủi, húng cây, rau đắng đất, lá chiếc, khổ qua, bắp chuối, chuối cây, chuối chát, dưa leo, khế, khóm (thơm) v.v... được bày lên bàn trông phát "ngợp". Một cái lẩu mắm với ngần ấy các thứ rau làm "chất độn”, tính ra vẫn rẻ so với công sức truy tìm đầy đủ các “hoa thơm cỏ lạ” đó để mời gọi thực khách!
Với tôi, đã từng sống trong miền quê thương khó suốt những năm chiến tranh, từng quen cảnh ăn củ co, bông súng, ăn rau để chống đỡ cơn đói lòng, khi được cùng bè bạn ngồi bên chiếc lẩu mắm sôi ùng ục, bốc lên mùi mắm thơm lừng với bao nhiêu thứ rau mang hơi hướm "hương đồng cỏ nội” khiến lòng tôi nghe bùi ngùi xúc động. Nhặt một vài thứ rau để vào lẩu mắm, trở qua trở lại gắp ra, kèm với một lát thịt ba rọi hoặc miếng lươn vàng cháy, hay con cá kèo tươi, ăn với lọn bún trắng ngần sẽ hợp khẩu vị biết bao! Mỗi loại rau có một hương vị riêng, nhưng được hoà với chất mắm cá sặt hay mắm cá linh trong lẩu sẽ làm tăng thêm ngon béo lạ lùng. Nếu ăn được ớt, bạn cắn thêm một miếng "ớt hiểm" cho vị cay nồng lan nhẹ trong cơ thể. Bạn có thể nhâm nhi một hớp rượu thuốc "đặc sản”, một ngụm bia... cho thi vị cuộc đời, nhưng bạn đừng nên uống nhiều, vì rượu làm hại sức khoẻ và đến lúc nào đó quá chén sẽ đánh mất đi cái ngon của lẩu mắm vừa ăn!
Sẽ thiếu hấp dẫn khi bày lẩu mắm ra bàn mà "lèo tèo" một hai thứ rau. Muốn thưởng thức một bữa ăn lẩu mắm, bạn phải đòi hỏi cho được nhiều thứ rau, những loại rau mang đủ hương vị mà miền phù sa sông Cửu đã ưu đãi cho chúng được sống vững, vươn lên như sức sống mãnh liệt của mỗi con người trong thời khai phá đất đai, mở mang bờ cõi phương Nam. Nét riêng ở ruộng đồng miền phù sa sông Cửu, là nơi đâu bạn cũng dễ dàng tìm gặp "hương đồng cỏ nội” mà tôi vừa kể.
CHUỘT KHÌA NƯỚC CỐT DỪA
Sống ở thành thị, khi nghe nói đến chuột có lẽ ta sẽ hình dung ra những con chuột cống lang ghẻ chốc lở lói, bàn chân trắng nhờ, sống chui rúc ở cống rãnh, ăn uống dơ bẩn? Hoặc những con chuột nhắt bé tí đục khoét, cắn phá đồ đạc trong nhà? Như thế ta sẽ mạnh dạn từ chối món thịt chuột? Không phải vậy đâu, bởi ở miền quê, thịt chuột là món ăn thông dụng, nhiều khi được chế biến thành món ăn đặc sản. Nhà văn Vũ Bằng trong tác phẩm “Thương Nhớ Mười Hai” cũng đã liệt kê "Chuột" là một trong số mười hai thương nhớ đó để gởi đến bạn đọc món ăn ngon của dân tộc! mà tôi có nhắc trong một bài viết trước. (Xin mở dấu ngoặc để kể thêm: Nhớ những ngày tháng cuối năm 1975 khi chúng tôi bị đưa lên trại tù Chi Lăng, bác sĩ LQT. người Cần Thơ, đã "khuyến khích" bọn tù chúng tôi bắt chuột cống lang ăn cho có chất đạm trong cơ thể, bởi vì ‘"chế độ ăn uống” của chúng tôi lúc đó thiếu kém trầm trọng. Tôi còn nhớ bác sĩ T. nói: "Ăn đi, cứ nướng chín thì vi trùng nào cũng chết. Làm sao cơ thể mình có đủ chất đạm để đối phó với tệ nạn ăn uống mà bọn chúng dành cho chúng ta!". Vài bác sĩ khác trong khung 5 của chúng tôi cũng đồng ý như bác sĩ T. Xin đóng dấu ngoặc nơi đây để đi vào trọng tâm bài viết nầy). Chuột nói ở đây là chuột đồng, phân biệt với chuột cống lang, là nơi bàn chân của chuột đồng có màu ửng hồng và thân nhỏ hơn, còn chuột cống nhum cũng là loại chuột cống đồng, lông xù, to con. Chuột đồng và cống nhum sống trên đồng ruộng, ăn cỏ non và lúa gạo nên sạch sẽ, thịt không độc. Thịt chuột có thể chế biến nhiều cách như chiên hoặc nướng tươi, muối sả ớt, xào mặn, bằm nhỏ xào lá cách, lá quít... Lúc chuột ít mỡ (khoảng tháng mười tháng mười một là mùa nước nổi khắp đồng ruộng), người ta còn nấu canh chua bằng chuột! Nhưng món ăn mà tôi thích nhứt, cho là đặc sản là món chuột khìa nước cốt dừa.
Khi bắt chuột về (đuổi bằng xà di, đuổi bóng, đuổi lọp, đào hang, dậm cù, gài bẫy (bẫy đất hoặc bẫy dây chì), đâm chĩa, bắn nạng giàn thun v.v...), thường thì người ta thui bằng lửa rơm hoặc trụng nước sôi để dễ lột da, nhưng làm cách nầy trông chuột không ngon thịt, mà nên chặt đầu, chân, đuôi rồi lột da trực tiếp (cố giữ lại lớp da mỡ), khoét dưới dạ bụng rút ruột ra, làm sao giữ nguyên bọng để dồn gia vị vào. Hành củ, tỏi đâm nhuyễn, một ít ngũ vị hương, đường, muối, bún tàu và thịt chuột băm nhỏ trộn đều, tất cả dồn vô bụng chuột. Bắc chảo lên bếp, đổ mỡ và khử tỏi cho thơm rồi cho chuột vào chiên vàng đều, vớt ra xếp vô soong từng lớp. Dừa khô nạo vắt lấy nước cốt để riêng, nước dão cho vào đến sâm sấp lớp chuột rồi đun lửa riu riu cho chất béo thấm vào thịt. Khi nước sắc xuống sền sệt, cho nước cốt dừa vào đun sôi lên mới nhắc xuống. Rắc đậu phộng rang đâm nhỏ lên mặt. Chuột khìa ăn lúc còn nóng mới ngon. Ðây là món dùng để ăn cơm, nhưng nếu cần lai rai chút đỉnh rượu cũng được!
Kể bạn nghe món ăn trở thành đặc sản miệt vườn quê tôi cũng để nhắc nhớ một thời thơ ấu của mình, bởi từ khi sống ở thành phố tôi không có dịp được ăn. Hồi còn trong nước, thấy chuột bày bán ở ngoài chợ rất nhiều nhưng ngại mua về, vì nghe đồn người ta đánh thuốc ngoài đồng, sáng sớm đi gom về làm thịt, bỏ vô nước ngâm phèn chua cho hết bầm, da thịt trắng lại. Ăn vào nhiều lỡ bị ngộ độc thì nguy. Hơn nữa chuột làm bán ngoài chợ phần nhiều thui bằng lửa rơm hay trụng nước sôi nên thịt không được ngon, bụng chuột mổ banh ra nên không thể làm món khìa nước cốt dừa được.
Chuột nướng, chiên tươi hay muối sả ớt, xào mặn... đều hấp dẫn, nhưng nếu có dịp thưởng thức món khìa nước cốt dừa chắc chắn bạn phải tấm tắc khen ngon.
CỦ CO
Hàng ngày bạn quen cảnh phố chợ đông đúc, tấp nập xe cộ, quán hàng, cần gì mua nấy - có lẽ vẫn thiếu đi thi vị cuộc đời, nếu bạn chưa có dịp sống ở vùng quê đồng ruộng bạt ngàn miệt Hậu Giang chúng tôi, nhất là vào thời chiến tranh thống khổ. Thuở đó quê tôi sống cảnh thiếu thốn trăm bề, cái ăn cái mặc là điều đáng nói. Chắc bạn khó hình dung việc mặc bố tời, mặc vải tám ta, thắp đèn bằng rọi mù u, ăn củ co bông súng thay gạo!
Hình ảnh nầy, tôi đã ghi lại qua bài thơ ÐÈN MÙ U in trong tuyển tập văn học nghệ thuật Miền Tây Thăng Hoa (số 3 phát hành ngày 15 November 1974 do nhà sưu khảo văn học Nguyễn Bá Thế xuất bản tại Cần Thơ, giấy phép kiểm duyệt số 473/74/BDVCH/PHBCNT/ALP/TP ngày 27-8-74) xin trích lại nguyên văn ở đây để nhắc nhớ kỷ niệm, dù biết rằng hôm nay bài thơ đã quá xưa cũ, ngôn từ đôi khi không còn thích hợp nữa, nhưng ý tưởng trung thực của nó tôi nghĩ mãi mãi sâu đậm lòng mình.
ÐÈN MÙ U
kính dâng hương hồn NỘI
trong cõi
đời miên viễn
Trong thời buổi giá nhiên liệu gia t
ăng, dầu lửa thắp đèn đã từ vài ba đồng một lít, lên dần đến năm sáu mươi đồng, rồi hằng mấy trăm đồng... Cầm chai đi mua dầu, tôi bất chợt nhớ về thời đói khổ ngày xưa - thời chiến tranh chống Pháp.- miền quê thiếu kém mọi bề. Những gia
đình nghèo như gia đình tôi, không biết làm sao hơn, phải thắp đèn bằng rọi mù u. Ngày ngày, tôi theo NỘI đi lượm từng trái mù u về đập vỏ lấy ruột phơi khô, rồi xắt ra đem rang cháy đen, quết nát trộn với bao chỉ mụt (bao bố tời), vấn vào cọng lá dừa để đốt thay đèn dầu lửa...Tôi viết bài thơ nầy
để thương về NỘI, một hình ảnh thương yêu nhất của tôi trong thời chiến tranh thống khổ.
Ðã cuốn trôi rồi thời thơ dại
Nghiệp
đời chồng chất tuổi hoa niênBước vào danh vọng như mây khói
Như kiếp phù du chóng lãng quên.
Nội mất từ n
ăm ngừng chiến trậnChưa vinh dự hưởng phút yên vui,
Hoá thân trong cõi
đời miên viễnNhìn cháu con thương tiếc ngậm ngùi.
Ngày xưa - từ buổi dày chinh chiến
Nội tuổi già nua vẫn nhọc nhằn,
Ba mẹ con nghèo, không
đủ sốngPhải lo tần tảo nhịn phần
ăn.
Nuôi con, ba mẹ nuôi tâm huyết
Nội dẫn tinh thần cháu trắng trong,
Chống giặc ngoại xâm bền chí cả
Không
đao, không súng cũng tầm vông.
Ðể cho
đất nước luôn tròn vẹnÐẹp giống nòi ta,
đẹp sử xanhCương quyết không lòn xin ngoại chủng
Mong nhờ ân sủng với uy danh!
Con sống trong tình thương huyết nhục
Hào quang chói rạng thuở nằm nôi,
Nên từ tấm bé vương nghèo khổ
Như Nội, như Ba suốt cuộc
đời.
Chiến tranh ngày cũ
đau thương lắmMình sống trong vùng quê cách ng
ăn,Không có tiền dư không biết chợ
Chỉ lo tần tảo suốt quanh n
ăm.
Ngày ngày Nội dẫn con
đi lượmTừng trái mù u
để thắp đènThay thế
đèn dầu không sắm đượcVì thời chinh chiến khó
đua chen.
Nội bảo, rọi mù u thắp sáng
Như tình dân tộc sáng muôn
đời,Công lao, khổ nhọc do mình tạo
Cao quý còn hơn ánh
điện người.
Từ
đó con noi gương Nội dạyTập cho mình có chí tự tồn
Bước vào cuộc sống muôn hào nhoáng
Tranh
đấu theo từng tuổi trí khôn.
Bây giờ con sống trong lòng phố
Sáng
điện chan hoà khắp ngõ raCon vẫn thương hoài hình ảnh cũ
Ánh
đèn của Nội nở trăm hoa.
Soi lối con
đi suốt cuộc đờiKhông sờn chí cả, Nội hiền ơi...
Ðèn mù u sáng - Ðèn dân tộc
Như sử ngàn n
ăm chói rạng ngời...
(Ðèn Mù U - thơ LHV)
Một hình ảnh khác cũng đã gây cho tôi niềm xúc cảm dạt dào và tôi đã viết bài thơ VỀ SÔNG ĂN CÁ đăng trong thi tuyển Về Nguồn số 5 - mùa xuân Mậu Thân 1968 (được đăng lại trên phụ trang đồng quê của nhật báo Tia Sáng 1968; sau đó bài thơ đã bị một tác giả ký tên Minh Sang (TV) lấy đăng trên BNS Tuổi Hoa, và nhà thơ phụ trách Trinh Chí đã lên tiếng xin lỗi về việc Ộđạo thơỢ nầy.
VỀ SÔNG
ĂN CÁkính dâng BA MÁ và quê hương
để tặng Lê Trúc Khanh
trọn vẹn cho em KDP
Dòng nước theo về ngang xóm nội
Phù sa từng lớp ngập lòng sông
Phần ba sản nghiệp: ghe
đăng cáNgày tháng cùng
đi họp chợ đồng.
Ba
đem hơi thở nuôi con trẻLặn ngụp từng
đêm dưới rạch sâuTừng bát cơm mua bằng khổ cực
Vì con - ba chất nặng ưu sầu.
Con nhớ những n
ăm lo chạy giặcNhà nghèo - ba má nhịn phần
ănCủ co, bông súng miền kinh ruộng
Thay gạo,
đồng quê... sống nhọc nhằn.
Từ
đó nhà mình xuôi chợ tỉnhTrốn bom, tránh
đạn chín mười nămChiến tranh dày xéo quê hương cũ
Giờ nhớ thương thêm - tiếc nuối thầm.
Ba già, không tiếp nghề
đăng cáLàm thợ qua ngày
đổi bát cơmVẫn hạt ngọc vàng - cơm
đất ViệtNhưng hương vị ngọt chẳng còn thơm!
Ngày xưa gạo giã xông mùi cám
(Mộc mạc mà thương mến
đậm đà...)Ăn với cá đồng ba kiếm được
Ðơn sơ... vẫn
đẹp, phải không ba?
Tết nầy ba có về quê cũ
Th
ăm mả mồ xưa viếng xóm làng?Hưu chiến
đôi ngày... Ôi ngắn ngủiLàm sao níu lại
được thời gian?
Ví dầu về rẫy
ăn còng sữaĂn cá về sông... thương tuổi thơ!
Ba hỡi,
điêu tàn vương xóm nộiTìm
đâu đường nét đẹp bây giờ!?
Cần Thơ 10-12-1967
(Về Sông
Ăn Cá - thơ HVT)
Hình ảnh đó đã đeo đẳng tuổi thơ tôi suốt thời chiến tranh. Ðể bạn hình dung phần nào về củ co, tôi xin vắn tắt thế nầy: Ðây là loại củ nhỏ nằm sâu dưới đất ruộng, có thân ống như bông súng, cọng nhỏ, lá cỡ bàn tay xoè, thường mọc trên đất ruộng mềm và đất sình lầy, xen với bông súng ma và nhiều loại cỏ hoang khác. Vào mùa nước nổi, bạn lội ra ruộng khi tìm gặp lá, tay phăng theo thân ống, đụng gốc rồi chỉa hai ngón tay (trỏ và giữa) xuống đất sâu, bạn sẽ móc lên củ của nó. Củ thường bằng ngón tay cái hoặc nhỏ hơn ngón chân cái một chút, dáng tròn, màu đen, xung quanh có nhiều gai mềm (đó là rể bám trong đất). Gặp khu đất nào tốt, bạn móc một lúc là đầy nồi, có thể về rửa sạch bùn để nấu. Củ co nấu rất dễ. Bạn chỉ cần đổ nước khoả ngập mặt, nấu cho sôi lên một dạo, vớt thử, bóp nhẹ một củ thấy mềm, lột vỏ tróc ra là đã chín. Lúc nấu, bạn thêm chút muối cho vị mặn thấm vào trong. Ðổ ra rổ, hơi nóng còn bốc lên, mùi thơm toả ra trộn lẫn mùi bùn hăng hăng. Vậy mà lột vỏ, bạn sẽ thấy ruột củ co ửng vàng màu mỡ gà, ăn vào bùi bùi thật quyến rũ. Có lẽ do quen "khẩu vị" hay sao mà thuở đó mỗi khi bà nội tôi nấu xong, tôi ngồi lột vỏ rồi đưa vào miệng ăn đến quên thôi. Bởi vậy, những năm chiến tranh, ở miền quê tôi thiếu gạo ăn, nhiều gia đình phải hái bông súng, bắt ốc, móc củ co ăn thay cơm - ăn vẫn no và vẫn bám ruộng, bám đồng để sống...
Những mùa lũ hằng năm sau nầy ở đồng bằng sông Cửu Long càng lúc càng nghiệt ngã, các hãng thông tấn, báo chí, đài phát thanh loan tin có nhiều gia đình, nhiều cháu nhỏ phải hái bông điên điển nấu cháo thay cơm, tôi vô cùng xúc động! Chợt nhớ thân phận mình một thuở ở miền quê phải lội ruộng móc củ co về nấu thay cơm, nếu phương tiện truyền thông thời đó như bây giờ chắc có nhiều điều đáng nói hơn!. Dù sao trong cuộc đời, mỗi kỷ niệm tuổi thơ đều có một góc riêng để nhớ. Mong rằng ngày nay, củ co được bày bán ngoài chợ chỉ là món ăn chơi cho tăng “hương đồng cỏ nội” trước bao món ngon vật lạ nhan nhản thường ngày! Chúng ta đã vượt qua chặng đường gian khổ của một thời quê tôi rồi,. Bạn ạ!
Cảm ơn bạn đã bõ thời gian quý báu để đọc những dòng chữ nầy, nếu bạn cảm thông mà chia sẻ với quá khứ tuổi thơ vốn chẳng sang trọng chút nào và ngày nay đối với tôi thật sự đã xa mãi ngút ngàn, là niềm vạn hạnh cho tôi. Xin muôn vàn đa tạ.
(Trong tập QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN,
tác giả tự xuất bản tại HoaKỳ n
ăm 2000)
PHỤ BẢN
Kính thưa quý Bạn đọc,
Thời gian qua, trên Webpage PTGDTD Cần Thơ, tác giả LÊ CẦN THƠ đã gởi đến quý Thầy Cô, quý đồng môn và quý bạn đọc gần xa 20 bài viết trích từ tập bút ký QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN. Ðể bổ sung thêm lý do vì sao tôi viết và xuất bản tập bút ký nầy, xin được trích đăng lại ở đây lời VÀO TẬP (in từ trang 5 đến trang 10) thay lời tựa cho tập sách, mang tựa QUÊ HƯƠNG XA MÃI NGÚT NGÀN, và trang cuối sách là thay lời bạt của nhà thơ HUY TRÂM. Những bài viết nầy, bản quyền là của tôi, nhưng khi phổ biến trên trang nhà nầy, tôi đồng ý để quý vị trích in lại (nếu cần), nhưng xin ghi xuất xứ: “Trích trên trang web:. www.ptgdtd.com
Trân trọng,
LÊ CẦN THƠ
(June 20, 2004)
(PHỤ BẢN I)
VÀO TẬP
(thay lời tựa)


Bìa 1
Bìa 2
QUÊ HƯƠNG
XA MÃI
NGÚT NGÀN
"Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương
nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương
được”.
Tôi đã được nghe câu nói trên từ những năm đầu thập niên sáu mươi và nó đã in sâu trong tâm khảm mình cho mãi đến sau nầy, cũng như trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư kể chuyện một người được đi du lịch khắp nơi nhưng khi trở lại chốn chôn nhau cắt rốn của mình, mọi người tò mò muốn biết những danh lam thắng cảnh mà người ấy đã đi qua, hỏi nơi nào đẹp nhất, ông ta không ngần ngại nói rằng "Chốn quê hương đẹp hơn cả”. Quê hương - hai tiếng rất đơn sơ, giản dị, vậy mà đã có không biết bao nhiêu giấy mực để diễn tả về hai tiếng đó, nhưng vẫn chưa thể cho là đầy đủ. Mỗi nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ..., kể cả mỗi thành viên trong xã hội đều có cách nhìn, cách nghĩ và cách giải đáp hai tiếng Quê Hương theo ý riêng mình. Có thể giải đáp theo hình ảnh cụ thể như: "Quê hương là chùm khế ngọt - là con diều biếc - là vành nón lá, là chiếc cầu tre, là con đường nhỏ, là ngôi trường làng, là ông thầy giáo dạy vỡ lòng...". "Quê hương là hình ảnh chú bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo, là cánh cò bay lả bay la, là ánh hoàng hôn trùm phủ cánh đồng...”. “Quê hương là mái đình làng, là cây đa, là bụi tre khóm trúc, là ngọn núi, là dòng sông, là cánh đồng bằng bạt ngàn ruộng lúa,...". Có thể giải đáp theo nghĩa trừu tượng như: "Quê hương đậm dấu tuổi thơ, quê hương ngút ngàn kỷ niệm, quê hương là điệu hò câu hát, là những ca dao tục ngữ, những nét đẹp văn hoá truyền lại lâu đời qua nhiều thế hệ cha ông từ thuở dựng nước, mở nước và giữ nước,"" v.v... Dù mang nghĩa cụ thể hay trừu tượng, Quê Hương vẫn là hai tiếng thiết thân gần gũi trong lòng của mỗi con người như hơi thở, như sự sống khó thể cắt lìa. Bạn có dịp đi đâu xa nơi mình sinh ra và sống nhiều năm ở thời thơ trẻ, có một phút giây lắng đọng nào đó, chợt nhớ về nơi chốn ấy, sẽ thấy lòng bâng khuâng xao xuyến, nhớ nhung da diết; và cũng có thể những giây phút đó bạn chạnh lòng để rơi những dòng lệ nóng xuống đôi gò má hằn sâu nếp nhăn của mình. Là những người xa xứ, mỗi khi nghe ai nhắc đến làng quê, thôn xóm hay một nơi nào đó của đất nước mà bước chân mình đã có dịp đi qua, bạn Thấy gì? Nghĩ gì? Chắc hẳn khi ấy những tình tự quê hương chợt nhiên ùa về trong tâm trí bạn, rồi bao nhiêu liên tưởng diễn ra, bao nhiêu điều tra vấn lương tâm mình đối với nơi chốn ấy bằng bao nhiêu câu hỏi rộn rã, mơ hồ... Ðó, theo thiển ý riêng tôi, những khoảnh khắc ấy, những giây phút ấy, hai tiếng Quê Hương đã trở về với bạn một cách hồn nhiên thanh thản, không câu nệ lằn ranh suy tưởng, không phân chia biên giới hận thù...
Những năm sau cùng của thiên niên kỷ lại xảy ra lắm tai ương cho quê hương Việt Nam. Cơn bão số 5 mang tên Linda, đầu tháng 11/1997 đã gây tang tóc cho nhiều đồng bào các tỉnh miền cuối Việt, nỗi đau xoáy vào tim ta chưa lành hẳn thì trận lũ lụt tàn khốc nhất thế kỷ lại phủ chụp lên các tỉnh miền Trung Việt Nam, gây bao nhiêu tang thương mất mát cho đồng bào ruột thịt quê nhà, cho những công trình văn hoá dân tộc lâu đời đáng lý phải được gìn giữ như một báu vật của đất nước có một lịch sử hơn bốn ngàn năm văn hiến. Bạn cảm thấy lòng mình thế nào? Phải chăng từ trong sâu thẳm tâm hồn, bạn đã dồn hết tâm tư tình cảm và điều kiện có được để chung lo bù đắp lại phần nào thiệt hại mất mát đó? Tình dân tộc, nghĩa đồng bào - đúng hơn là tình quê hương đã khuấy động trong ta vô cùng mãnh liệt. Những lời mời gọi chung sức cứu trợ khẩn cấp đưa về quê nhà mỗi lúc một nhiều hơn, khẩn thiết hơn, dồn dập hơn... Tất cả chỉ vì tấm lòng của người xa xứ đối với quê hương. Những quốc gia, những tổ chức trên toàn thế giới ra tay cứu trợ nhưng lại mang một ý nghĩa khác hơn: đó là lòng nhân đạo của con người đối với con người thuần nhất của nó - khác hẳn với suy nghĩ và hành động của chính con người Việt Nam đối với quê hương đất nước Việt Nam.
Vậy Quê Hương chính là ruột rà máu thịt. Quê hương là niềm vui và nỗi buồn của mỗi con người đối với cả hai lãnh vực cụ thể và trừu tượng mà tôi đã nghĩ như trên. Viết về những gì liên quan đến quê hương, là góp một phần ghi lại những tâm tư, tình cảm, những nét đẹp, những niềm vui, những nỗi buồn... đã đến và đi qua cuộc đời của mỗi con người trong dòng chảy lịch sử, qua đi khó thể quay trở lại - lịch sử dù có lặp lại sự kiện nhưng không thể lặp lại đúng y con người và cảnh sắc như trước. Sự việc diễn ra duy nhất trong một lần, sau nầy có lặp lại cũng chỉ tương tự chớ không thể giống một thước phim ghi hình ảnh và lưu giữ như một chứng liệu bất di bất dịch. Do vậy, Quê Hương mà tôi viết ra, dù dưới một dạng nào, dưới một bối cảnh nào, cũng chỉ là những hình tượng có thật đã diễn ra trong một thời khắc nào đó bên cạnh cuộc sống, nhưng đậm sâu trong tâm khảm, và hôm nay đã trở nên quá khứ có vui có buồn, có tiếc nhớ, có xao xuyến bâng khuâng. Khó, và chắc chắn là không thể tái diễn lần sau... cho nên tôi cứ cảm nhận rằng nó thật sự xa rời mãi mãi. Xin được dùng mấy chữ đơn sơ để trang trải tình cảm riêng tư: Quê Hương Xa Mãi Ngút Ngàn
Những trang viết trong quyển sách nhỏ nầy, xin được gói ghém những chân tình mộc mạc, và xin được trang trọng gởi đến bạn đọc yêu quý những tâm tư tình cảm của riêng tôi, bởi vì, như mở đầu tôi có ghi lại câu nói mà tôi tâm đắc từ mấy mươi năm nay: "Người ta có thể tách bước rời khỏi quê hương, nhưng không thể tách rời con tim khỏi quê hương được”, Vâng, thưa quý bạn đọc, tôi nghĩ con tim riêng mình khó thể tách rời khỏi quê hương Việt Nam xa mãi ngút ngàn được.
Tôi đã sống trong miền quê Trường Long nghèo khó từ thuở mới chào đời, đã hít thở không khí thôn dã quê mùa, nên trong cách nhìn, cách nghĩ của mình cũng không thoát khỏi cái phong vị nơi mình chào đời. Miền quê tôi từ xưa đến nay không thấy xuất hiện những văn nhân thi sĩ tiếng tăm, thì việc tôi tập tành viết lách cũng chỉ để điểm tô cho cuộc sống của mình chút hương vị với cuộc đời chớ không có tham vọng nào khác! Và trong tập sách mỏng nầy, tôi xin được viết với những cảm nhận của mình dù có lan man, chắp vá. Ngôn ngữ sử dụng trong từng bài viết là ngôn ngữ trong kho tàng văn hoá Việt Nam, từ điển lâu đời của cha ông có sẵn, không phải của bất cứ riêng ai độc quyền sử dụng và giành lấy như một ngôn ngữ của họ phát minh, sáng tạo - cũng xin đừng gán ghép ngôn ngữ cho một tập đoàn thống trị nào để mặc nhiên công nhận thành quả của họ đối với đất nước! Dân tộc Việt Nam vốn dĩ hiếu hoà và suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhất là sau một ngàn năm bị phương Bắc đô hộ, gần trăm năm thực dân Pháp thống trị, văn hoá và ngôn ngữ dân tộc đã không bị đồng hoá, không bị mất gốc, còn làm giàu thêm, phong phú thêm cho kho tàng văn chương chữ nghĩa... là niềm tự hào cho con dân Việt Nam.
Trong những ngày còn sống trên quê hương Cần Thơ và đất nước Việt Nam, tôi có dịp đi một vài nơi, quen biết được bạn bè trong thâm tình bằng hữu văn nghệ. Những bài viết trong tập sách nầy là sự góp nhặt từ những cái nhìn, những cảm nhận liên tục diễn ra..., được sự khuyến khích của nhiều anh em, tôi ghi chép vội vàng, nay viết ra kèm với một số ảnh nghệ thuật của bạn bè trao tặng. Những tài liệu và hình ảnh tôi đưa vào từng trang sách như một kỷ niệm trong đời; và tác phẩm nầy chính là niềm đồng cảm bằng hữu văn nghệ với riêng tôi suốt mấy mươi năm qua. Những tên tuổi bạn bè gắn liền với tuổi thơ tôi được nhắc đến như một ngậm ngùi, tưởng nhớ. Xin được nghiêng mình vĩnh biệt bạn bè đã mất, bởi trong mỗi đời người, chỉ một lần sinh ra và một lần nằm xuống. Còn sống với nhau trên cõi hồng trần đã là diễm phúc nhất trong đời.
Cho nên tất cả biểu hiện trong trang sách nầy là tấm lòng sáng trong, chân thật của tôi trao đến bạn đọc hôm nay và gởi lại mai sau.
Cuối
đông 1999 Bước sang xuân 2000Ðón mừng thiên niên kỷ mới...
LÊ CẦN THƠ
(Houston, Texas, Hoa Kỳ)
PHỤ BẢN II
HUY TRÂM
thay lời bạt
Orange September 27th 98
Kính gởi Anh LÊ CẦN THƠ
Xin phép
được kêu bằng Anh, vì trộm nghĩ tuổi tác cũng không chênh lệch bao nhiêu.Mới
đây, đọc tạp chí DÂN TA, số 189 qua bài "Nhớ mùa cá lên đồng” của anh, tôi và mấy ông bạn thích quá! Cả một khung trời quê hương trở về, khiến ai nấy bâng khuâng, ngậm ngùi.Cái
đáng quý là anh đã viết bằng tất cả trái tim, tả tỉ mỉ, chính xác mùa cá lên đồng ở miệt sông Hậu.Cho nên, v
ăn chương đã có sự đồng cảm. Tôi vội sao chép, đưa ngay cho mấy ông bạn gốc ở Hậu Giang. Họ đoán anh, hoặc gốc Cần Thơ, hoặc Long Xuyên, Trà Vinh và phải là người từng ở dưới đồng lâu năm, yêu mến ruộng đồng, bà con thì mới viết lại hay đến như thế!Những bài kỳ trước, tôi cũng có xem. Nó
đầy tâm hồn và tình tự Dân Tộc. Chỉ tiếc là ở bên Mỹ này, có một số anh em, đã lẫn việc chống Cộng với chống Dân Tộc. Mọi sự, khởi đi từ lòng thương yêu Quê Hương, đồng bào thì mới có hy vọng. Tôi nghĩ văn nghệ mà toàn do giả tưởng, xa thực tế, lai căng thì nguy hiểm lắm!Do
đó, xin thành thật cám ơn ngòi bút xuất sắc của anh, đã đem cho độc giả và bọn tôi niềm gắn bó hơn nữa với quê nhà. Chính thể thì qua đi mà Dân Tộc thì trường tồn, phải không anh?Xin tặng anh một tác phẩm
để xem trong những phút sầu xứ.

Kính chúc anh và gia
đình được vạn sự tốt lành.