Một kiếp làm người

Bùi Phú Giáo

 

Tính đến nay đă 30 năm, từ ngày viên đạn AK 47 đă xuyên phá cơ thể tôi, nó đă làm biến dạïng thân h́nh tôi do cha mẹ tạo dựng nên. Phải, từ khi viên đan nghiệt ngă chui vào tủy sống đă biến tôi như con búp bê nằm một chổ cắn răng chịu đựng nỗi nhục h́nh mà chỉ có những người phế binh miền Nam Việt Nam mới gánh lấy trong tủi nhục hẩm hiu và lăng quên từ mọi phía.

Tôi vào quân đội khi tuổi đời c̣n quá trẻ theo lệnh động viên. Tôi nhập khóa 25 trường Vơ Bị Quốc Gia, một sinh viên Sĩ quan trẻ ngày nào với tương lai sáng chói và giờ đây tiều tụy, đói rét nằm một chổ đuổi con ruồi không nỗi, tiêu tiểu cả trong quần không hay biết. Bao nhiêu ước mơ cháy bỏng một chiều. C̣n quá trẻ, một thanh niên tuổi đời c̣n quá trẻ, vô tư hồn nhiên ngay cả cũng chưa biết ǵ tới mùi nước hoa và phấn son phụ nữ, đă ngă gục máu chảy lênh láng trên chiến trường miền Tây chằng chịt sông rạch. Chim trời gảy cánh, thế là đánh đấu chấm hết một khúc nhạc tuổi thơ êm ái. Đời người chiến binh kết thúc thật thảm thương lặng lẽ hẩm hiu không trống không kèn như khi làm lể măn khóa để trở thành người sĩ quan của một quân lực. Có ai buồn nhớ đến thân phận chúng tôi đâu ? Suốt cả một chuỗi dài sống trong rẽ khinh, nhiều lúc tủi nhục không c̣n thiết sống nữa, nhưng chẵng biết phải làm sao. Muốn chết cũng đâu phải dễ, c̣n sức đâu mà đăo lộn ư trời. Hàng ngày nằm ngắm mây trôi mà nhớ về vùng sông nước chảy của thuở nào và những cánh c̣ thẳng cổ duổi chân bay về tổ hưởng hạnh phúc khi ánh tà dương chuyễn ḿnh lặn tắt. Những ngọn lúa, những đọt lang cũng ngă ḿnh ngủ yên khi màn đêm buông xuống. Từng đàn trâu cũng về chuồng, từ con ḅ, con gà, con lợn cũng êm ấm qua đêm chỉ c̣n duy nhất những người lính phải thức cho muôn loài được ngủ. Những chiến binh phải chấp nhận những quy điều bảo quốc an dân, dù phải hy sinh tánh mạng cũng phải chấp nhận đáp lời sông núi.

Tốt nghiệp trường Vơ Bị Quốc Gia Việt Nam, với tuổi đời c̣n quá trẻ. Với khái niệm về Tổ Quốc cũng chỉ lơ mơ trong sách giáo khoa là một dải đất h́nh cong như chử S từ ải Nam Quan cho đến mủi Cà Mau bên bờ thái b́nh dương quanh năm sóng vỗ ŕ rào. Qua bao ngày tháng thăng trầm trong làn tên mủi đạn, những ruộng lúa nương dâu, những buổi chợ làng, những lớp học đồng quê, những thú vui cắm câu, kéo lưới cho đến những công việc đồng áng, chèo xuồng đă thấm nhập vào tim óc chúng tôi và biến chúng tôi trở thành những người lính sẳn sàng hy sinh để bảo vệ những ǵ quê hương ḿnh đang có cho ruộng lúa thêm xanh cho trường quê vang tiếng trẻ.

Những buổi chiều dừng chân im tiếng súng, gát đầu lên chiếc balô hướng về quê nhà, nơi c̣n có cha già mẹ yếu ngày ngày mỏi mắt mong ngóng tin con. Những buổi chợp mắt nhớ về bạn củ trường xưa, nhớ đến h́nh dáng đáng kính của thầy cô trên bục giảng, nhớ những cây phượng đỏ trước cổng trường, thương thương nhớ nhớ đă đi vào hồn tôi theo từng bước quân hành làm thêm trĩu nặng t́nh quê t́nh nước.

Vào một ngày cuối Thu, khi đừng chân bên gịng sông, nh́n những chiếc lá vàng lác đác ĺa cành, rơi trên ḍng nước như chở theo niềm mơ ước của tôi vào cơi vô thường ... Bỗng dưng những tiếng nỗ chát chúa vang lên, người tôi đau nhói ngă nhào xuống dẩy dụa trên thảm lá vàng đầy máu nóng rồi lịm dần đi trong màu đen tối, khi bên tai vẫn c̣n nghe tiếng súng vang rền. Không biết đă bao ngày trôi qua,ï người tôi đau đớn vô cùng nằm bất động. Bàn tay mẹ xờ xoạn trên mặt tôi, tôi cố mở mắt để nh́n mẹ mà sức tôi không thể nào cưởng lại sự kềm chế của thuốc mê c̣n chưa dứt hẳn, tai tôi nghe văng vẳng tiếng khóc của mẹ tôi và lời than thở tôi nghe rơ mồn một : " Thế nầy ... C̣n ǵ là thân thể của con tôi... Rồi đời con tôi sẽ ra sao ?” Chắc là nghiêm trọng lắm theo tôi nghỉ. Tôi cố gắng cử động nhưng ... Không thể ...thân thể tôi cũng phản kháng lại tôi. Trên những đường làng, trên những con đê dấu chân tôi c̣n đó mà đôi chân tôi giống như chiếc lá vàng ngày nào rơi rụng nơi mà đă chấm dứt cuộc đời của một thanh niên tràn trề những ước mơ đầy hứa hẹn. Thân thể của tôi bấy giờ không khác ǵ một đứa bé chưa biết lật. Nỗi đớn đau của một kẻ thất chí chỉ muốn chết khi bóng đen đă phủ chụp xuống cái tương lai đă được thêu dệt và ấp ủ că một chuỗi dài đầy mơ mộng của thời niên thiếu. Nh́n thấy mẹ hiền c̣ng lưng lo cho con, cha già thở dài năo nuột nh́n con trong nước mắt nghẹn ngào mà ḷng ngập nỗi xốn xang, tủi phận.

Thời gian vẫn trôi, đă 30 năm ở một góc xó hẩm hiu vẫn c̣n đó một h́nh hài c̣n xót lại như một quái thai không phát triển nhưng vẫn phấn đấu bên gịng chảy của cuộc đời, bên ṿng tay thương yêu của người mẹ già quá đổi đau thương vừa làm mẹ vừa làm cha khi ba tôi trút hơi tàn sau cơn bạo bịnh. Tôi như một đứa bé suốt ngày nằm trên giường để nh́n ngắm mây trôi trên bầu trời qua khung cửa và lắng nghe tiếng chuông giáo đường âm vang mỗi buổi hoàng hôn tắt nắng. Cuộc chiến ấy đă lui vào quá khứ. Nhưng vết thương trên cơ thể vẫn hằng nhức nhối mỗi khi trái gió trở trời. Sự cô đơn gậm nhấm tâm hồn tôi, tôi quằn quại trong vũng vầy tuyệt vọng, lăn lộn trên chiếc giường với mùi mồ hôi hăng hắc, mùi nước tiểu nồng khai. Hai tai vẫn c̣n văng vằng tiếng bom pháo ầm ́, tiếng xích sắt của xe tăng nghiến trên đường... Tôi phải tự chèo chống trong cô đơn, trong tuyệt vọng để tồn tại trong gịng chảy cuộc đời để làm tṛn kiếp nhân sinh. Chung quanh tôi không có kẻm gai, không có c̣ng số 8, không có song sắt với tường cao, như tôi đang lảnh bản án chung thân không sao vượt thoát ra được.

" Vui là vui gượng kẻo là . Ai tri âm đó mặn mà với ai ? "

Hàng ngày tôi vẫn phải đối diện với bài toán gạo, mắm , muối, thuốc men mà con toán vẫn c̣n là ẩn số. Tôi đang lầm lũi trên chặng đường mùa đông của cuộc đời, tầm tay ngắn ngủi. Đôi bàn tay c̣n đó ... cũng chỉ đủ sức găi chỗ ngứa trên cơ thể và xúc muỗng cơm đưa vào miệng là cùng. Chẳng c̣n làm được ǵ khi bại liệt và đă tháo bỏ đôi chân lên tới sát háng.

Sau ngày giả từ binh nghiệp tôi chỉ c̣n lại hai cái bông mai chưa được rửa lon và cái huy chương anh dũng bội tinh với nhành dương liểu. Hai thứ đó mấy mươi năm nay không nuôi tôi được, không giúp ǵ được với mẹ tôi mà lắm khi c̣n là tai họa..! Nhưng tôi vẫn quư vẫn trọng nó v́ cái giá tôi đă phải trả bằng cả một đời hoang phế. Đă 30 năm trôi qua từ ngày tôi ngă xấp trên chiến địa, h́nh như chưa bao giờ tôi được một ngày vui, sự đói khổ chất chồng, cảnh thiếu trước hụt sau của mẹ tôi trong khả năng lụn tàn của tuổi già sức yếu mà c̣n gánh nặng thằng con "thực vật" thấy thương mẹ quá. Dù vũ trụ có bao la mấy đi cũng không vĩ đại bằng ḷng mẹ...

Ḷng mẹ bao la như biển thái b́nh, nếu không có mẹ đở đần có lẽ tôi không thể nào sống nỗi đến ngày hôm nay. Mẹ đă yếu dần theo giông băo của thời gian và nhọc nhằn trong nước mắt. Từng tuổi nầy mà lắm khi mẹ phải đút cho ăn, mẹ phải giặc cho từng cái quần đầy phân và nước tiểu. Tội quá những người mẹ có những đứa con ngă ngựa bị trả về khi đă trở thành tàn phế. Đau ḷng nhất là những cấp chỉ huy, những người lảnh đạo tối cao đă không c̣n nhớ ǵ về số phận của chúng tôi. Những cảnh đói nghèo cùng cực của tập thể phế binh chúng tôi chẳng ai ngó ngàng ǵ đến. Nhiều anh em đă ra đi trong tức tưởi nghẹn ngào bên vĩa hè hẩm hiu đói rét. Nhiều hoàn cảnh bi ai của một số anh em cùng hoàn cảnh như tôi chỉ biết kêu trời chứ chẳng biết phải làm sao hơn. Năm ngoái, có hai người bạn cũng là phế binh có đến thăm khoe với tôi là vừa được Hội từ thiện Việt Nam nước ngoài gởi tiền về giúp đở. Các anh cho tôi địa chỉ và kêu tôi gởi thư và h́nh ảnh cùng các bản sao giấy tờ qua cho Hội để được giúp đở. Tôi do dự thật lâu, rất nhiều ngày tôi phân vân là có nên viết xin hay không ?!. Đáng lẽ các ông lớn đó phải có trách nhiệm với chúng tôi chứ đâu thể để ḿnh phải cầu xin như vậy. Rồi những đói nghèo xâu xé ḷng tôi khi mẹ tôi không c̣n đủ sức nuôi tôi nên lắm khi nhà không c̣n gạo để nấu ăn mà hai mẹ con phải ăn bằng khoai củ. Mẹ biết tôi v́ mặc cảm và tự ái nên không viết thư qua xin giúp đở cũng đành nuốt lệ trong đói nghèo v́ thương tôi quá sức. Vào một đêm mưa gió tả tơi, bao tử cồn cào không sao ngủ được thêm vào đó vết thương nhói buốt v́ trở trời. Tôi thức trọn đêm suy nghỉ, ḿnh có nên gởi thư ra nước ngoài xin xỏ mấy ông lớn giúp đở hay không ?. Đầu tôi rối bời bởi những câu hỏi của chính tôi phát xuất từ h́nh bóng gầy c̣m của mẹ và hai cái bao tử chậm chập tuần hoàn trong hai cơ thể gần như sắp kiệt quệ. Sáng sớm, tôi nói mẹ đưa cho tôi bút giấy để tôi viết thư gởi ra nước ngoài, mẹ tôi như nhanh nhẹn hơn mọi ngày lấy đầy đủ các cái để cho tôi viết thư. Lá thư đầu tiên tôi viết qua chỉ vài ḍng về lư lịch và tấm h́nh thời binh lửa mấy bản sao chứng nhận thương tật của một phế binh với bản tường tŕnh ủy khúc . Tháng sau tôi nhận được lá thư của Hội Thiện Nguyện Cứu Trợ Thương Phế Binh Bị Quên Lăng Tại Việt Nam với những lời lẽ thật đậm nét t́nh người. Và tôi được hiểu thêm đây là một số anh chị em có ḷng kết hợp lại để vận động quyên góp từ đồng bào Việt kiều giúp đở về chứ không phải của cơ quan nào hay những ông to bà lớn mà tôi hằng tưởng. Lá thư gởi về chia xẻ nổi đớn đau từ tâm hồn đến thể xác tôi từng lời từng chử trong câu văn thắm đượm t́nh người. Tôi cảm thấy vui, khỏe phấn chấn lạ thường dù chưa được trợ giúp xu nào. Thời buổi đảo điên của kim tiền vật chất mà c̣n có những tấm ḷng hết sức bao la. Như được trợ đuyên bằng cánh thư của Hội từ đó tôi có được những nụ cười bất chợt trên môi, nhiều lần mẹ bắt gặp mẹ vui mừng hỏi " con cười ǵ đó hả con ?” ...

Tiết trời có lẽ chuyển mùa, v́ vết thương nhói đau báo trước. Mẹ tôi quét dọn bàn thờ là một công việc mỗi năm. Tết sắp đến, hai miệng ăn nằm trong đôi bàn tay c̣m cỏi cắt rau, nhổ cải mướn của mẹ già tuổi đă ngoài 80. Ngày cuối năm, có mấy anh thương binh đến cho chút quà cáp để ăn tết nói rằng chia sớt với tôi v́ các anh ấy được Hội từ thiện bên Uùc Đại Lợi giúp đở. Mừng mừng tủi tủi khi nhận những sớt chia của các anh em đồng cảnh, kẻ cho gạo, đường mắm muối, người cho tiền cũng đă làm cho mẹ con tôi có được cái tết khá hơn những năm trước nhiều. Dư âm của Hội ngày càng lớn dần cả quê tôi ai ai cũng biết và biết luôn cả phương danh của những vị trong Hội từ thiện ấy. Ngày ngày bấm đốt ngón tay để tính thử xem bao lâu mới đến phiên ḿnh. Sau tết khoảng một tháng , vào thượng tuần tháng 3, có người đến hỏi tên và phát cho tôi một triệu hai mươi ngàn đồng nói rằng của Hội Từ Thiện bên Uùc gởi tặng. Cái cảm giác tột cùng sung sướng trong niềm hảnh diện của một đời phế binh tuôn chảy theo những gịng nước mắt bật tuôn. Tôi run người miên man đếm đi đếm lại số tiền quí vị gởi cho tôi, đó là lá bùa vạn năng chửa được chứng bịnh “đau bao tử ”của chúng tôi. Dù rằng quí vị cũng đang bận rộn trong cuộc sống đời thường nơi đất khách quê người, nhưng quí vị vẫn luôn hướng về quê nhà chia sẻ nỗi đau thương, mất mát của tôi. Đó là đạo lư của người Việt Nam “ Lá lành đùm lá rách ", " Máu chảy ruột mềm" Tấm ḷng nhân hậu và từ thiện của quư vị tôi xin khắc ghi vào ḷng :

" Ai ơi ! Bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.”  Và

" Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, ăn khoai nhớ đến công ai vun trồng .”

Món quà của quí vị nó mang cả ư nghĩa về vật chất lẫn tinh thần, nó thể hiện t́nh người và quí vị đồng hành với người c̣n ở lại. Sau cuộc chiến thành phần như chúng tôi thiệt tḥi quá. Tôi vẫn khắc khoải trông chờ những người đă cùng bên một chiến tuyến và hằng theo dỏi bước chân của quí vị trên vạn nẽo đường và cũng đă biết được quí vị cũng vượt qua bao nhiêu khó khăn giông băo của t́nh đời để kiếm cho chúng tôi được miếng cơm manh áo. Sự hy sinh của quí vị không thua ǵ sự hy sinh những phần cơ thể của chúng tôi. Khi xưa chúng tôi phải vào quân đội theo lệnh động viên, vào lính có lảnh lương. C̣n ngày nay quí vị lao vào công việc từ thiện nầy không ai bắt buộc, bằng cả tấm ḷng hy sinh và mà cũng chẳng có đồng lương nào cả mà quí vị vẫn xông pha vào mặt trận t́nh đời, như cánh sen giửa vũng bùn lầy nhơ nhớp.

Từ nay, trong những đêm dài cô tịch, tôi không c̣n nằm khóc thầm cho thân phận, tiếng thở dài cũng sẽ mất hẳn trong tôi. Mẹ tôi bớt khổ cực trong hoàn cảnh đói nghèo già yếu. Tôi thấy mẹ tôi vui lắm, nhanh nhẹn hơn nhiều khi thấy con vui. Được thêm lá thư trần t́nh của Hội đang t́m vị ân nhân bảo trợ cho tôi, tôi như được vực dậy từ những vỡ vụng trong tận cùng, Cám ơn Hội, những vị anh hùng của thời đại đă chấp nhận đương đầu cho chúng tôi được sống. Tập thể phế binh không bao bao giờ quên ơn quí vị. Quí vị đă dang tay cho chúng tôi nương náu trong những ngày cuối của cuộc đời, nếu ngày mai chúng tôi có trút hơi tàn cũng quyện theo làn gió cận kề bên quí vị trong những công tác ngược xuôi kiếm tiền cho tha nhân và cũng để nh́n những cảnh trớ trêu trên đường làm trách nhiệm của t́nh người không bao giờ quí vị chùn bước hay mệt mỏi.

Xin nguyện cầu ơn trên, hồn thiêng sông núi và chiến sĩ trận vong hảy độ tŕ cho quí Hội, quí anh chị được chân cứng đá mềm, sức khỏe dồi dào hầu che chở, cứu giúp cho hàng vạn sanh linh đang ngày đêm hướng về quí vị những trái tim từ ái sống xứng đáng không uổng, thẹn một kiếp làm người .